Vị trí, vai trò của Thư ký Tòa án

I. KHÁI QUÁT CHUNG VỀ NGẠCH THƯ KÝ TOÀ ÁN

1. Sự hình thành ngạch công chức Thư ký Toà án

Thư ký Toà án không chỉ là một chức danh tiến hành tố tụng trong hoạt động tư pháp, một loại công chức nhà nước mà còn được xác định là một nghề ở nhiều nước trên thế giới. Thư ký Toà án ở các nước này thường không phải là cử nhân luật mà chỉ được đào tạo trong một khoảng thời gian rất ngắn so với các chức danh tư pháp khác theo một chương trình chuyên sâu về các kỹ năng của nghề Thư ký Toà án và có thể phục vụ suốt với chức danh này. Khác với các nước, Thư ký Toà án ở nước ta chưa được xác định là một nghề theo đúng nghĩa của nó mà coi Thư ký là nguồn đào tạo bổ nhiệm Thẩm tra viên, Thẩm phán. Phần lớn đội ngũ Thẩm phán và Thẩm tra viên của các Tòa án ở nước ta đều trưởng viênh từ Thư ký Toà án.

Đội ngũ Thư ký Toà án các cấp ở nước ta trước đây được hình thành từ nhiều nguồn khác nhau với trình độ chuyên môn nghiệp vụ không đồng đều: cử nhân, trung cấp pháp lý hoặc có bằng cấp chuyên môn không phải về pháp luật… Từ năm 1998 đến nay, theo Nghị định số: 95/1998/NĐ-CP ngày 17/11/1998 về tuyển dụng, sử dụng và quản lý công chức và hướng dẫn của Tòa án nhân dân tối cao thì chỉ có những người có trình độ cử nhân luật và có đủ các tiêu chuẩn khác (phẩm chất đạo đức tốt, sức khoẻ…) mới được tuyển dụng vào ngạch Thư ký Toà án. Hiện nay, số Thư ký Toà án (đã được tuyển dụng trước đây) chưa có trình độ cử nhân luật không nhiều, chủ yếu là vùng sâu, vùng xa và đang từng bước được đào tạo để có trình độ cử nhân luật hoặc tương đương.

Từ trước đến nay Thư ký Toà án ở nước ta chưa được đào tạo nghề theo một chương trình chính quy và cơ bản như các loại công chức nhà nước khác. Họ học nghề Thư ký Toà án chủ yếu thông qua thực tiễn công tác hàng ngày và kinh nghiệm của những người đi trước. Trường cán bộ toà án trong những năm gần đây đã tổ chức được một số lớp tập huấn nghiệp vụ Thư ký Toà án ngắn ngày (từ 5 ngày đến 2 tuần) cho Thư ký Toà án mới được tuyển dụng vào ngành Toà án. Tuy nhiên nội dung và chương trình học của các lớp này chưa mang tính đoà tạo, dạy nghề Thư ký Toà án mà mới dừng lại ở mức độ phổ biến, truyền đạt lại kinh nghiệm thức tiễn công tác Thư ký Toà án.

Cùng với sự hình thành bộ máy nhà nước, ngành Toà án nhân dân ra đời từ năm 1945, nhưng chức danh Thư kýToà án xuất hiện rất muộn trong hệ thống pháp luật Việt Nam. Luật tổ chức Toà án nhân dân đầu tiên của nước ta ban hành năm 1960 vẫn chưa có quy định Thư ký ở Toà án các cấp. Tuy nhiên trên thực tế hoạt động tố tụng đều cần phải có đội ngũ Thư ký. Mãi đến năm 1992 luật tổ chức Toà án nhân dân mới có quy định chức danh công chức Thư ký ở Toà án các cấp. Và trước đó, trong hệ thống ngạch lương không có ngạch lương riêng cho Thư ký Toà án. Khi thực hiện việc chuyển xếp lương mới theo Nghị định số 5/1993/NĐ-CP ban hành năm 1993 của Chính phủ thì Thư ký Toà án mới được thừa nhận và chuyển xếp lương bằng một ngạch công chức riêng, có hệ số mức lương khởi điểm là 1,82 (thấp hơn mức lương khởi điểm của chuyên viên là 1,86). Đến năm 2004 chính phủ có nghị định số 204/CP về điều chỉnh hệ thống thang bảng lương thì Thư ký Toà án được xếp lương vào ngạch chuyên viên.

Tóm lại, từ năm 1992 đến nay (qua luật tổ chức Toà án nhân dân và các văn bản pháp luật) đã khẳng định Thư kýToà án trong hệ thống ngạch công chức Việt Nam. Đồng thời tiêu chuẩn trình độ chuyên môn nghiệp vụ ngạch Thư ký Toà án cũng đã đòi hỏi ngang bằng như là ngạch chuyên viên. Theo quy định tại Điều 4 và Điều 34 Luật cán bộ, công chức năm 2010 thì Thư ký Toà án thuộc công chức loại C.

Cũng cần phân biệt Thư ký Toà án khác với Thư ký phiên toà. Thư ký phiên toà là người tiến hành tố tụng, được Chánh án phân công làm thư ký đối với từng vụ án cụ thể có nhiệm vụ cùng với Thẩm phán và Hội đồng xét xử giải quyết vụ án.

Thư ký phiên toà có thể là Thư ký Toà án hoặc chuyên viên hoặcThẩm tra viên của Toà án được Chánh án hoặc người được Chánh án uỷ quyền phân công làm nhiệm vụ thư ký trong từng phiên toà sơ thẩm, phúc thẩm, giám đốc thẩm, tái thẩm. Còn Thư ký Toà án là một chức danh công chức của Toà án.

2. Tiêu chuẩn ngạch Thư ký Toà án

Thư ký Toà án là cán bộ, công chức nhà nước, vì vậy trước hết muốn được tuyển dụng làm Thư ký Toà án thì phải có đủ tiêu chuẩn để được tuyển dụng làm cán bộ, công chức. Mặt khác, Thư ký Toà án phải tiến hành tố tụng, cho nên mướn được tuyển dụng làm Thư ký Toà án là người tiến hành tố tụng phải có đủ các tiêu chuẩn để thực hiện chức năng, nhiệm vụ của người tiến hành tố tụng. Theo quy định hiện nay của ngành Toà án, một người muốn được tuyển dụng làm Thư ký Toà án cần có đủ tiêu chuẩn sau đây:

Là công dân Việt Nam trung thành với Tổ quốc, có phẩm chất, đạo đức tốt, liêm khiết và trung thực;

Có trình độ đại học luật, nghiêm chỉnh chấp hành pháp luật có tinh thần kiên quyết bảo vệ pháp chế xã hội chủ nghĩa;

Có sức khoẻ bảo đảm hoàn thành nhiệm vụ;

Một số tiêu chuẩn khác như ngoại ngữ, tin học.

Từ năm 2002, Chánh án Toà án nhân dân tối cao quy định Thư ký Toà án phải là người tốt nghiệp đại học Luật hệ chính quy của các Trường đại học như Đại học Luật Hà Nội, Đại học Luật thành phố Hồ Chí Minh, Đại học xã hội nhân văn, Đại học Huế… không được tuyển dụng hệ tại chức, đại học từ xa…

Những người được tuyển dụng vào ngạch Thư ký Toà án, tuy công tác ở Toà án các cấp khác nhau, tính chất công việc có khác nhau nhưng đều có các quyền lợi và nghĩa vụ cơ bản giống nhau.

II. VỊ TRÍ, VAI TRÒ CỦA THƯ KÝ TOÀ ÁN

1. Thư ký Toà án là công chức nhà nước

Theo quy định tại khoản 2 Điều 4 Luật cán bộ, công chức năm 2010 thì công chức là công dân Việt Nam được tuyển dụng bổ nhiệm vào ngạch, chức vụ, chức danh trong cơ quan của Đảng cộng sản Việt Nam, nhà nước, tổ chức chính trị-xã hội ở Trung ương, cấp tỉnh, các huyện…, Trong biên chế và hưởng lương từ ngân sách nhà nước… Như vậy Thư ký Toà án trước hết phải là một công chức nhà nước.

Trong Toà án nhân dân, cán bộ, công chức có nhiều chức danh ở nhiều ngạch công chức khác nhau, không phải chức danh nào cũng như quy định trong Luật tổ chực Toà án nhân dân, ví dụ như: thẩm tra viên, chuyên viên, kế toán, nhân viên… được quy định ở các văn bản pháp luật khác.

Thư ký Toà án được quy định trong Luật tổ chức Toà án nhân dân, bởi lẽ muốn thực hiện được chức năng, nhiệm vụ được quy định tại Điều 127 Hiến pháp năm 1992 và Điều 1 Luật tổ chức Toà án nhân dân năm 2002 thì không thể thiếu Thư ký Toà án được; cụ thể: Luật tổ chức Toà án nhân dân năm 2002 đã quy định:

+ Toà án nhân dân tối cao có Chánh toà, các Phó chánh toà, Thẩm phán, Hội thẩm, Thư ký Toà án (khoản 3 Điều 18 Luật tổ chức Toà án).

+ Toà án nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương có Chánh toà, các Phó chánh toà, Thẩm phán, Hội thẩm nhân dân, Thư ký Toà án (khoản 2 Điều 27 Luật tổ chức Toà án).

+ Toà án nhân dân huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh có Chánh án, một hoặc hai Phó Chánh án, Thẩm phán, Hội thẩm nhân dân, Thư ký Toà án (khoản 2 Điều 32 Luật tổ chức Toà án).

+ Các Toà án quân sự có Chánh toà, các Phó chánh toà, Thẩm phán, Hội thẩm quân dân, Thư ký Toà án (khoản 1 Điều 35 Luật tổ chức Toà án).

2. Thư ký Toà án là người tiến hành tố tụng

Ngoài Luật tổ chức Toà án nhân dân quy định chức danh Thư ký Toà án, thì tất cả các văn bản pháp luật tố tụng đều có những quy định dành riêng cho Thư ký Toà án là người tiến hành tố tụng trong các vụ án và quy định nhiệm vụ quyền hạn khi tiến hành tố tụng của Thư ký Toà án.

+ Khoản 2 Điều 33 Bộ luật tố tụng hình sự quy định: Những người tiến hành tố tụng gồm có:

– Thủ trưởng, Phó thủ trưởng cơ quan điều tra, Điều tra viên;
Viện trưởng, Phó viện trưởng Viện kiểm sát, Kiểm sát viên;

– Chánh án, Phó Chánh án, Thẩm phán, Hội thẩm, Thư ký Toà án.

+ Khoản 2 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự quy định những người tiến hành tố tụng gồm có:

– Chánh án toà án, Thẩm phán, Hội thẩm nhân dân, Thư ký Toà án;

– Viện trưởng Viện kiểm sát, Kiểm sát viên;

+ Khoản 2 Điều 34 Luật Tố tụng hành chính quy định: Những người tiến hành tố tụng gồm có:

– Chánh án, Thẩm phán, Hôi thẩm nhân dân, Thư ký Toà án;

– Viện trưởng Viện Kiểm sát, Kiểm sát viên.

Để khẳng định địa vị pháp lý là người tiến hành tố tụng, luật tố tụng còn quy định trong quyết định đưa vụ án ra xét xử, ngoài việc ghi rõ họ tên các thành viên Hội đồng xét xử, kiểm sát viên, còn phải ghi họ tên của Thư ký (Điều 178 Bộ luật tố tụng hình sự, Điều 195 Bộ luật tố tụng dân sự…).

3. Vị trí, vai trò của Thư ký Toà án trong hoạt động tư pháp

Theo quy định của pháp luật tố tụng nước ta, trong hệ thống các chức danh tư pháp của các cơ quan Toà án, Viện kiểm sát, cơ quan điều tra và thi hành án, chỉ có Toà án mới có chức danh Thư ký với tư cách là một trong các chủ thể tiến hành tố tụng độc lập. Việc quy định chức danh Thư ký Toà án này trong hệ thống các chức danh tiến hành tố tụng trong ngành Toà án xuất phát từ yêu cầu nhiệm vụ và chức năng đặc thù của Toà án. Sự tham gia của Thư ký Toà án nói chung và của Thư ký phiên toà nói riêng vào quá trình giải quyết các vụ án là một trong các yếu tố, điều kiện không thể thiếu được trong hoạt động xét xử của Toà án.

Vị trí, vai trò của Thư ký Toà án được thể hiện qua nhiệm vụ, quyền hạn và trách nhiệm của Thư ký do pháp luật tố tụng quy định.

Theo Điều 41 Bộ luật tố tụng hình sự và Điều 43 Bộ luật tố tụng dân sự thì khi được phân công tiến hành tố tụng đối với vụ án, Thư ký Toà án có nhiệm vụ và quyền hạn:

– Chuẩn bị các công tác nghiệp vụ cần thiết trước khi khai mạc phiên toà.
– Phổ biến nội quy phiên toà.
– Báo cáo với Hội đồng xét xử danh sách những người triệu tập đến phiên toà.
– Ghi biên bản phiên toà.
– Tiến hành các hoạt động tố tụng khác theo sự phân công của Chánh án và theo quy định của pháp luật tố tụng.

Đối với hoạt động tố tụng dân sự, Thư ký Toà án còn có nhiệm vụ ghi biên bản lấy lời khai, biên bản đối chất, định giá tài sản, xem xét thẩm định tại chỗ…thực hiện việc cấp, tống đạt, thông báo văn bản tố tụng cho cá nhân, cơ quan, tổ chức tham gia tố tụng.

Vai trò của Thư ký Toà án còn được thể hiện bởi yếu tố chất lượng thực hiện các hoạt động tố tụng. Nếu thư ký làm không tốt thì vụ án có thể bị cải sửa hoặc bị huỷ án…

Ví dụ việc tống đạt không hợp lệ, việc ghi biên bản phiên toà không đúng…đều có thể dẫn đến hậu quả vi phạm tố tụng nghiêm trọng.

Trong đó nhiệm vụ ghi biên bản phiên toà là hoạt động tiến hành tố tụng thường xuyên, quan trọng và đòi hỏi Thư ký Toà án phải có những kỹ năng nghiệp vụ nhất định. Bởi lẽ biên bản phiên toà trở thành tập hợp nguồn căn cứ quan trọng cho Toà án các cấp xem xét khi có kháng cáo, khiếu nại, biên bản phiên toà đương sự được quyền xem và yêu cầu sửa chữa ngay sau khi kết thúc phiên toà (Điều 211 Bộ luật Tố tụng dân sự…). Do đó, ghi biên bản phiên toà vừa phải có kỹ năng về tóm lược nội dung vấn đề, vừa đảm bảo nhanh, chính xác, vừa phải đảm bảo tính khách quan, vô tư.

Tóm lại, vai trò, vị trí Thư ký Toà án được xác định bởi các nhiệm vụ và quyền hạn mà pháp luật đã quy định cho họ. Các nhiệm vụ của Thư ký Toà án đồng thời cũng là các quyền hạn của họ và ngược lại. Đây là những điều kiện quan trọng nhằm bảo đảm cho Thư ký Toà án hoàn thành được chức trách, nhiệm vụ của mình trong tố tụng, bảo đảm cho hoạt động xét xử của Toà án công minh, đúng pháp luật, bảo đảm công bằng xã hội. Mặt khác, đây cũng là cơ sở để truy cứu trách nhiệm pháp lý đối với Thư ký Toà án trong trường hợp họ vi phạm.

Vị trí quan trọng của Thư ký Toà án trong hệ thống tư pháp còn thể hiện ở chỗ thông qua thực hiện xét xử, Thư ký Toà án sẽ tích luỹ và học tập được nhiều kinh nghiệm quý báu, bổ ích và phong phú về xét xử các loại án để trở thành nguồn bổ sung chủ yếu cho đội ngũ Thẩm phán, Thẩm tra viên của Toà án các cấp ở nước ta hiện nay.

III. QUYỀN VÀ NGHĨA VỤ CỦA THƯ KÝ TOÀ ÁN

1. Theo quy định của Luật cán bộ công chức

Thư ký Toà án là công chức nhà nước, vì vậy quyền và nghĩa vụ của Thư ký Toà án cũng được thực hiện theo quy định của Luật cán bộ, công chức; Và phải là công bộc của nhân dân, chịu sự giám sát của nhân dân, phải không ngừng rèn luyện phẩm chất đạo đức, học tập nâng cao trình độ và năng lực công tác để thực hiện tốt nhiệm vụ, công vụ được giao.

Phải thực hiện đầy đủ các nghĩa vụ của người công chức đối với Đảng, Nhà nước, nhân dân và đối với công vụ được quy định tại các Điều 8 và Điều 9 Luật cán bộ, công chức. Đó là:

– Trung thành với Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam; bảo vệ danh dự Tổ quốc và lợi ích quốc gia.
– Tôn trọng nhân dân, tận tuỵ phục vụ nhân dân.
– Liên hệ chặt chẽ với nhân dân, lắng nghe ý kiến và chịu sự giám sát của nhân dân.
– Chấp hành nghiêm chỉnh đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng và pháp luật của Nhà nước.
– Thực hiện đúng, đầy đủ và chịu trách nhiệm về kết quả thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn được giao.
– Có ý thức tổ chức kỷ luật; nghiêm chỉnh chấp hành nội quy, quy chế của cơ quan, tổ chức, đơn vị; báo cáo người có thẩm quyền khi phát hiện hành vi vi phạm pháp luật trong cơ quan, tổ chức, đơn vị; bảo vệ bí mật nhà nước.
– Chủ động và phối hợp chặt chẽ trong thi hành công vụ; giữ gìn đoàn kết trong cơ quan, tổ chức, đơn vị.
– Bảo vệ, quản lý và sử dụng hiệu quả, tiết kiệm tài sản nhà nước được giao.
– Chấp hành quyết định của cấp trên. Khi có căn cứ cho rằng quyết định đó là trái pháp luật thì phải kịp thời báo cáo bằng văn bản với người ra quyết định; trường hợp người ra quyết định vẫn quyết định việc thi hành thì phải có văn bản và người thi hành phải chấp hành nhưng không chịu trách nhiệm về hậu quả của việc thi hành, đồng thời báo cáo cấp trên trực tiếp của người ra quyết định. Người ra quyết định phải chịu trách nhiệm trước pháp luật về quyết định của mình.

– Các nghĩa vụ khác theo quy định của pháp luật.
Song song với nghĩa vụ, Thư ký Toà án có các quyền của người công chức được quy định từ Điều 11 đến Điều 14 Luật Cán bộ, công chức; Bao gồm quyền được bảo đảm các điều kiện thi hành công vụ, tiền lương và các chế độ liên quan đến tiền lương, quyền được hưởng các chế độ chính sách khác theo quy định của pháp luật. Cụ thể các quyền đó là:

– Được giao quyền tương xứng với nhiệm vụ.
– Được bảo đảm trang thiết bị và các điều kiện làm việc khác theo quy định của pháp luật.
– Được cung cấp thông tin liên quan đến nhiệm vụ, quyền hạn được giao.
– Được đào tạo, bồi dưỡng nâng cao trình độ chính trị, chuyên môn, nghiệp vụ.
– Được pháp luật bảo vệ khi thi hành công vụ.
– Được Nhà nước bảo đảm tiền lương tương xứng với nhiệm vụ, quyền hạn được giao, phù hợp với điều kiện kinh tế – xã hội của đất nước. Cán bộ, công chức làm việc ở miền núi, biên giới, hải đảo, vùng sâu, vùng xa, vùng dân tộc thiểu số, vùng có điều kiện kinh tế – xã hội đặc biệt khó khăn hoặc trong các ngành, nghề có môi trường độc hại, nguy hiểm được hưởng phụ cấp và chính sách ưu đãi theo quy định của pháp luật.

Được hưởng tiền làm thêm giờ, tiền làm đêm, công tác phí và các chế độ khác theo quy định của pháp luật.

– Cán bộ, công chức được nghỉ hàng năm, nghỉ lễ, nghỉ để giải quyết việc riêng theo quy định của pháp luật về lao động. Trường hợp do yêu cầu nhiệm vụ, cán bộ, công chức không sử dụng hoặc sử dụng không hết số ngày nghỉ hàng năm thì ngoài tiền lương còn được thanh toán thêm một khoản tiền bằng tiền lương cho những ngày không nghỉ.

Ngoài các quyền lợi nêu trên cán bộ, công chức còn được hưởng các chế độ chính sách khác của người lao động mà theo Luật lao động quy định.

– Cán bộ, công chức được bảo đảm quyền học tập, nghiên cứu khoa học, tham gia các hoạt động kinh tế, xã hội; được hưởng chính sách ưu đãi về nhà ở, phương tiện đi lại, chế độ bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế theo quy định của pháp luật; nếu bị thương hoặc hy sinh trong khi thi hành công vụ thì được xem xét hưởng chế độ, chính sách như thương binh hoặc được xem xét để công nhận là liệt sĩ và các quyền khác theo quy định của pháp luật.

Bên cạnh đó Thư ký Toà án không được làm những việc mà Luật cán bộ, công chức cấm cán bộ, công chức không được làm được quy định từ Điều 18 đến Điều 20 như sau:

– Trốn tránh trách nhiệm, thoái thác nhiệm vụ được giao; gây bè phái, mất đoàn kết; tự ý bỏ việc hoặc tham gia đình công.
– Không được cửa quyền, hách dịch, sách nhiễu, gây phiền hà đối với cơ quan, tổ chức, cá nhân trong khi giải quyết công việc.
– Sử dụng tài sản của Nhà nước và của nhân dân trái pháp luật.
– Lợi dụng, lạm dụng nhiệm vụ, quyền hạn; sử dụng thông tin liên quan đến công vụ để vụ lợi.
– Phân biệt đối xử dân tộc, nam nữ, thành phần xã hội, tín ngưỡng, tôn giáo dưới mọi hình thức.
– Cán bộ, công chức không được tiết lộ thông tin liên quan đến bí mật nhà nước dưới mọi hình thức.

Ví dụ: Theo quy định của pháp luật và danh mục đăng ký thông tin tài liệu mật của ngành Toà án thì Thư ký không được tiết lộ thông tin, đường lối giải quyết vụ án, số liệu về hình phạt tử hình…

– Cán bộ, công chức làm việc ở ngành, nghề có liên quan đến bí mật nhà nước thì trong thời hạn ít nhất là 05 năm, kể từ khi có quyết định nghỉ hưu, thôi việc, không được làm công việc có liên quan đến ngành, nghề mà trước đây mình đã đảm nhiệm cho tổ chức, cá nhân trong nước, tổ chức, cá nhân nước ngoài hoặc liên doanh với nước ngoài.

– Chính phủ quy định cụ thể danh mục ngành, nghề, công việc, thời hạn mà cán bộ, công chức không được làm và chính sách đối với những người phải áp dụng quy định tại Điều này.

– Ngoài những việc không được làm quy định tại Điều 18 và Điều 19 của Luật này, cán bộ, công chức còn không được làm những việc liên quan đến sản xuất, kinh doanh, công tác nhân sự quy định tại Luật phòng, chống tham nhũng, Luật thực hành tiết kiệm, chống lãng phí và những việc khác theo quy định của pháp luật và của cơ quan có thẩm quyền.

2. Quyền và nghĩa vụ theo quy định của pháp luật tố tụng

Thư ký là người tiến hành tố tụng, vì vậy khi thực hiện các hoạt động tố tụng phải tuân thủ nghiêm ngặt các quy định của pháp luật tố tụng. Theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự, Bộ luật tố tụng dân sự, Luật Tố tụng hành chính thì quyền và nghĩa vụ tố tụng cơ bản của Thư ký Toà án như sau:

– Khi Thư ký được giao nhiệm vụ tiến hành tố tụng một vụ án có quyền được nhận quyết định phân công của Chánh án.

– Khi bị thay đổi hoặc có quyết định thay đổi có quyền được biết lý do về sự thay đổi.

– Nếu thuộc các trường hợp pháp luật tố tụng quy định phải từ chối tiến hành tố tụng thì thư ký phải có nghĩa vụ báo cáo Chánh án hoặc người phân công để từ chối tham gia tiến hành tố tụng.

Ví dụ: Đối với vụ án hình sự phải từ chối tiến hành tố tụng hoặc bị thay đổi, khi thuộc một trong các trường hợp sau đây:

+ Đồng thời là người bị hại, nguyên đơn dân sự, bị đơn dân sự, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án; là người đại diện hợp pháp, người thân thích của những người đó hoặc của bị can, bị cáo.

+ Đã tham gia với tư cách là người bào chữa, người làm chứng, người giám định, người phiên dịch trong vụ án đó.

+ Có căn cứ rõ ràng khác để cho rằng họ có thể không vô tư trong khi làm nhiệm vụ.

+ Đã tiến hành tố tụng trong vụ án đó với tư cách là Kiểm sát viên, Điều tra viên, Thẩm phán, hoặc Hội thẩm nhân dân, (Điều 28 và Điều 33 Bộ luật Tố tụng hình sự).

Đối với vụ án dân sự, kinh tế, lao động, hành chính Thư ký phiên toà cũng phải từ chối tiến hành tố tụng hoặc bị thay đổi khi thuộc một trong các trường hợp quy định tại các điều luật tương ứng Điều 46, 49 Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 42, 47 Bộ luật Tố tụng Hình sự và Điều 41 và 44 Luật Tố tụng hành chính.

Phải chịu trách nhiệm trước pháp luật về hành vi tố tụng của mình. Nếu có lỗi gây thiệt hại thì phải bồi thường theo quy định của luật bồi thường nhà Nước. Nếu có hành vi cố ý làm sai lệch hồ sơ vụ án thì có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự theo Điều 300 Bộ luật Hình sự.

Khi thực hiện các hoạt động tố tụng dân sự mà bị khiếu nại tố cáo thì có các quyền và nghĩa vụ được quy định tại các Điều 393 và 400 của Bộ luật Tố tụng dân sự. Cụ thể là:

+ Đưa ra các bằng chứng về tính hợp pháp của quyết định, hành vi trong tố tụng bị khiếu nại.
+ Được nhận quyết định giải quyết khiếu nại về quyết định, hành vi trong tố tụng của mình.
+ Giải trình về quyết định, hành vi trong tố tụng dân sự bị khiếu nại; cung cấp thông tin, tài liệu liên quan khi cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền yêu cầu.
+ Chấp hành nghiêm chỉnh quyết định giải quyết khiếu nại đã có hiệu lực pháp luật.
+ Được thông báo về nội dung tố cáo.
+ Đưa ra bằng chứng để chứng minh nội dung tố cáo là không đúng sự thật.
+ Được khôi phục quyền và lợi ích hợp pháp bị xâm phạm; được phục hồi danh dự, được bồi thường thiệt hại do việc tố cáo không đúng gây ra.
+ Yêu cầu cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền xử lý người tố cáo sai sự thật.
+ Giải trình về hành vi bị tố cáo; cung cấp thông tin, tài liệu liên quan khi cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền yêu cầu.
+ Chấp hành nghiêm chỉnh quyết định xử lý của cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền.
+ Bồi thường thiệt hại, hoàn trả hoặc khắc phục hậu quả do hành vi tố tụng dân sự trái pháp luật của mình gây ra theo quy định của pháp luật.

Tiến sỹ Từ Văn Nhũ
Nguồn: Nguyên Phó Chánh án TAND tối cao

1885 Lượt xem