Uỷ ban nhân dân cấp xã với công tác thi hành án dân sự

Từ việc nghiên cứu các văn bản pháp luật hiện hành, tôi nhận thấy trong công tác thi hành án dân sự, Uỷ ban nhân dân cấp xã tham gia với tư cách là cơ quan phối hợp, giúp cơ quan thi hành án dân sự, chứ không phải là cơ quan có thẩm quyền tổ chức việc thi hành án. Trách nhiệm tổ chức thi hành các quyết định thi hành án dân sự thuộc về cơ quan thi hành án dân sự. Tuy nhiên, với công tác thi hành án dân sự, Uỷ ban nhân dân cấp xã cần chú trọng thực hiện những công việc cơ bản sau đây:

  1. Tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật về thi hành án dân sự, giáo dục, thuyết phục người phải thi hành án tự nguyện thi hành án Đây là nhiệm vụ chung của các cơ quan nhà nước, trong đó có cơ quan thi hành án dân sự và Uỷ ban nhân dân cấp xã. Việc tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật nói chung, pháp luật về thi hành án dân sự nói riêng ở cấp xã tạo điều kiện thuận lợi cho người dân ở nơi đó dễ dàng tiếp cận, hiểu biết pháp luật về thi hành án dân sự.

Hình thức, thủ tục tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật về thi hành án dân sự thực hiện tương tự như lĩnh vực pháp luật khác.

  1. Chỉ đạo việc tổ chức phối hợp các cơ quan hữu quan trong việc thi hành án ở địa phương

Khoản 3 Điều 8 Pháp lệnh Thi hành án dân sự 2004 quy định Chủ tịch Uỷ ban nhân dân các cấp trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình có trách nhiệm chỉ đạo việc tổ chức phối hợp các cơ quan hữu quan trong việc thi hành án ở địa phương. Như vậy, đây là công việc mà Chủ tịch Uỷ ban nhân dân cấp xã phải lưu ý thực hiện cho đúng, tạo điều kiện để công tác thi hành án ở địa phương đạt hiện quả cao.

Để thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn này, Chủ tịch Uỷ ban nhân dân cấp xã cần chỉ đạo các cơ quan hữu quan, tổ chức kinh tế, tổ chức xã hội, đoàn thể quần chúng, tổ dân phố, tổ an ninh và các cơ quan, tổ chức khác trong phạm vi mình quản lý phối hợp với cơ quan thi hành án dân sự trong để thi hành các việc thi hành án dân sự ở địa phương mình; đồng thời tạo điều kiện cho các cơ quan, tổ chức khác đóng trên địa bàn địa phương mình phối hợp tham gia vào công tác thi hành án dân sự.

  1. Giúp cơ quan thi hành án dân sự thực hiện một số công việc thông báo về thi hành án dân sự

Thông báo về thi hành án dân sự là loại công việc được quy định tại Điều 34 Pháp lệnh Thi hành án dân sự 2004, Nghị định số 164/2004/NĐ-CP ngày 14/9/2004, Nghị định số 173/2004/NĐ-CP ngày 30/9/2004 của Chính phủ và hướng dẫn tại mục 3 Công văn số 404/TP-THA ngày 24/02/2005 của Bộ Tư pháp. Theo đó, các quyết định, giấy báo, giấy triệu tập về thi hành án phải được thông báo cho người được thi hành án, người phải thi hành án, người có quyền, nghĩa vụ liên quan.

Việc thông báo về thi hành án được thực hiện bằng việc Chấp hành viên, cán bộ thi hành án giao giấy tờ về thi hành án cho người được nhận giấy tờ đó, nếu có khó khăn trong việc giao trực tiếp thì được thực hiện bằng thư bảo đảm qua đường bưu điện, trong trường hợp người được nhận thông báo vắng mặt thì các giấy tờ về thi hành án được giao cho Thủ trưởng cơ quan nơi người đó công tác hoặc cán bộ tư pháp cấp xã hoặc người thân thích có năng lực hành vi dân sự đầy đủ sống trong một gia đình nhận thay. Trong trường hợp không thể thông báo trực tiếp được như nêu trên thì việc thông báo thực hiện bằng cách niêm yết công khai bản chính thông báo tại trụ sở Uỷ ban nhân dân cấp xã nơi cư trú của người được thông báo nếu xác định được nơi ở cụ thể của người đó; việc niêm yết công khai phải được lập biên bản, ghi rõ ngày, tháng, năm niêm yết, nội dung thông báo và người niêm yết, có xác nhận của chính quyền địa phương.

Trong trường hợp nhất định, Uỷ ban nhân dân cấp xã giúp cơ quan thi hành án thực hiện một số công việc thông báo về thi hành án. Uỷ ban nhân dân cấp xã cần lưu ý những vấn đề sau đây khi thực hiện việc thông báo về thi hành án:

  1. a) Trong việc thông báo quyết định, giấy tờ về thi hành án

Các quyết định thi hành án được thông báo gồm nhiều loại, như: Quyết định thi hành án, quyết định hoãn, tạm đình chỉ, trả lại đơn yêu cầu thi hành án, quyết định cưỡng chế thi hành án.v.v. Giấy tờ về thi hành án được thông báo có các loại giấy mời, giấy triệu tập về thi hành án.

Sau khi nhận được quyết định về thi hành án mà cơ quan thi hành án yêu cầu Uỷ ban nhân dân cấp xã thực hiện việc thông báo, thì Uỷ ban nhân dân cấp xã phải nhanh chóng, khẩn trương cử người thực hiện việc giao trực tiếp hoặc gửi quyết định thi hành án cho người được nhận quyết định thi hành án đó.

  1. b) Thông báo về việc kê biên tài sản

Theo quy định của pháp luật thì trước khi kê biên tài sản, Chấp hành viên phải thông báo cho người được thi hành án, người phải thi hành án, người có quyền, lợi ích liên quan đến việc thi hành án biết về thời gian, địa điểm kê biên tài sản.

Đối với tài sản kê biên thuộc diện đăng ký quyền sở hữu, sử dụng, đăng ký giao dịch bảo đảm thì Chấp hành viên phải thông báo ngay sau khi ra quyết định kê biên tài sản cho các cơ quan có thẩm quyền đăng ký quyền sở hữu, quyền sử dụng khác theo quy định của pháp luật. Riêng đối với quyền sử dụng đất, chậm nhất là bảy ngày làm việc trước ngày kê biên, ngoài việc phải thông báo trực tiếp bằng văn bản về việc kê biên quyền sử dụng đất cho người được thi hành án, người phải thi hành án, người nhận thế chấp, người nhận góp vốn bằng quyền sử dụng đất, người có quyền, nghĩa vụ liên quan đến quyền sử dụng đất, các thành viên Hội đồng kê biên quyền sử dụng đất, Viện Kiểm sát nhân dân cùng cấp và Uỷ ban nhân dân cấp xã nơi có đất bị kê biên. Đồng thời với việc thông báo công khai trên phương tiện thông tin đại chúng của địa phương phải niêm yết việc kê biên quyền sử dụng đất tại trụ sở cơ quan thi hành án và Uỷ ban nhân dân cấp xã nơi có đất bị kê biên theo quy định tại Điều 11 Nghị định số 164/2004/NĐ-CP ngày 14/9/2004 của Chính phủ.

– Những thông tin cần thiết khác liên quan đến tài sản bán đấu giá, gồm cả những thông tin mà người có tài sản bán đấu giá yêu cầu thông báo công khai.

  1. c) Thông báo về nhận tiền, tài sản

Tiền, tài sản do cơ quan thi hành án đã thu được thì phải thực hiện việc thanh toán hoặc trả cho những người được nhận. Khi thực hiện việc thông báo về nhận tiền, tài sản, Uỷ ban nhân dân cấp xã cần thông báo rõ là trong trường hợp một bản án, quyết định có nhiều khoản phải thi hành hoặc trường hợp người phải thi hành án phải thi hành nhiều bản án, quyết định của Toà án, nhưng chỉ có một số người làm đơn yêu cầu thi hành mà tài sản của người phải thi hành án không đủ để thi hành nghĩa vụ tài sản theo các bản án, quyết định của Toà án thì cơ quan thi hành án thông báo và ấn định thời hạn không quá một tháng cho những người được thi hành án khác về quyền yêu cầu thi hành án theo quy định tại khoản 2 Điều 27 Nghị định số 173/2004/NĐ-CP ngày 30/9/2004 của Chính phủ và hướng dẫn tại mục 15.3 Công văn số 404/TP-THA ngày 24/02/2005 của Bộ Tư pháp.

Đối với khoản tiền người phải thi hành án tự nguyện nộp nhưng người được thi hành án không nhận thì trong thời hạn không quá mười ngày làm việc kể từ ngày thu được số tiền, tài sản do người phải thi hành án nộp, cơ quan thi hành án thông báo cho người được thi hành án đến nhận theo hướng dẫn tại mục 10.2 Công văn số 404/TP-THA ngày 24/02/2005 của Bộ Tư pháp.Đối với những khoản tiền đã có báo gọi nhưng đương sự chưa đến nhận hoặc chưa xác định được địa chỉ của người nhận. Trong thời hạn 01 tháng kể từ ngày thông báo mà đương sự không đến nhận, thì cơ quan thi hành án làm thủ tục đứng tên gửi số tiền đó vào Ngân hàng theo loại tiền gửi tiết kiệm không kỳ hạn. Đồng thời mở sổ theo dõi ghi thông tin về sổ tiết kiệm cùng với tên người được thi hành án, số ngày, tháng, năm của bản án hay quyết định thi hành án. Hết thời hạn 03 năm kể từ ngày thông báo mà người được thi hành án không đến nhận thì Cơ quan thi hành án làm thủ tục chuyển nộp sung công số tiền, tài sản đó vào Ngân sách Nhà nước.

Đối với khoản tiền đã thu nhưng việc thi hành án bị hoãn, tạm đình chỉ để xem xét lại theo trình tự giám đốc thẩm, tái thẩm, thì Cơ quan thi hành án làm thủ tục đứng tên gửi số tiền đó vào Ngân hàng theo loại tiền gửi tiết kiệm không kỳ hạn, đồng thời ghi tên người được nhận; số, ngày, tháng, năm của bản án, quyết định của Toà án hay quyết định thi hành án. Phần lãi suất tiền gửi tiết kiệm sẽ được cộng vào số tiền gửi ban đầu và trả cho đương sự.

  1. Tham gia vào việc xác minh điều kiện thi hành án

Xác minh điều kiện thi hành án là trách nhiệm của cơ quan thi hành án, tuy nhiên khoản 1 Điều 8 Nghị định số 173/2004/NĐ-CP ngày 30/09/2004 của Chính phủ thì chính quyền địa phương phải tạo điều kiện, cung cấp thông tin cần thiết cho cơ quan thi hành án trong việc xác minh điều kiện thi hành án của đương sự.

Trong việc tham gia xác minh điều kiện thi hành án, Uỷ ban nhân dân cấp xã thực hiện những công việc sau đây:

  1. a) Cung cấp địa chỉ, tài liệu, điều kiện về thu nhập, tài sản của người phải thi hành án là công dân, tổ chức thuộc phạm vi địa phương mình quản lý cho cơ quan thi hành án

Khi cung cấp phải đảm bảo cụ thể, chính xác và kịp thời các thông tin về điều kiện thi hành án.

Riêng, đối với quyền sử dụng đất của người phải thi hành án, trong trường hợp người phải thi hành án không xuất trình giấy tờ về quyền sử dụng đất thì Chấp hành viên xác minh tại Uỷ ban nhân dân cấp xã. Khi cung cấp thông tin về quyền sử dụng đất của người phải thi hành án, Uỷ ban nhân dân cấp xã cần lưu ý theo quy định của Luật Đất đai năm 2003 và các văn bản hướng dẫn thi hành thì Chấp hành viên được kê biên, đấu giá quyền sử dụng đất để đảm bảo thi hành án nếu đó là quyền sử dụng đất mà theo quy định của pháp luật về đất đai được phép chuyển quyền sử dụng.

  1. b) Cử người tham gia xác minh điều kiện thi hành án

Trong trường hợp cần thiết, cơ quan thi hành án dân sự đề nghị Uỷ ban nhân dân cấp xã cử người tham gia xác minh điều kiện thi hành án, thì Uỷ ban nhân dân cấp xã cần cử người có chuyên môn tham gia. Ví dụ: khi xác minh về quyền sử dụng đất, thì cử công chức Địa chính – Nhà đất, xác minh về nhân thân đương sự thì cử công chức Tư pháp – Hộ tịch hoặc Trưởng Công an xã.

  1. c) Xác nhận vào biên bản xác minh điều kiện thi hành án

Biên bản xác minh điều kiện thi hành án do cơ quan thi hành án dân sự thực hiện nếu tiến hành xác minh ở địa phương cấp xã thì phải có sự tham gia của đại diện Uỷ ban nhân dân cấp xã. Uỷ ban nhân dân cấp xã xác nhận đóng dấu vào biên bản xác minh điều kiện thi hành án.

Việc xác nhận này do Chủ tịch hoặc Phó Chủ tịch Uỷ ban nhân dân cấp xã thực hiện.

  1. Cử đại diện Uỷ ban nhân dân cấp xã tham gia cưỡng chế thi hành án hoặc xử lý tang vật, tài sản có liên quan đến việc thi hành án

– Khoản 6 Điều 41 Pháp lệnh Thi hành án dân sự 2004 quy định khi kê biên tài sản phải có đại diện chính quyền cấp xã và người làm chứng. Điều 16 Nghị định số 164/2004/NĐ-CP ngày 15/9/2004 của Chính phủ cũng quy định đối với việc kê biên quyền sử dụng đất để đảm bảo thi hành án, thì đại diện Uỷ ban nhân dân cấp xã phải có mặt khi thực hiện việc kê biên trên thực địa.

Trong trường hợp kê biên tài sản là nhà ở hoặc đồ vật đang bị khoá hay đóng gói thì theo quy định tại khoản 3 Điều 22 Nghị định số 173/2004/NĐ-CP ngày 30/9/2004 của Chính phủ, Chấp hành viên yêu cầu người phải thi hành án, người đang sử dụng, quản lý tài sản đó mở khoá, mở gói; nếu người phải thi hành án, người quản lý, sử dụng tài sản không mở hoặc cố tình vắng mặt, thì Chấp hành viên lập biên bản (có ít nhất hai người làm chứng và sự tham gia của đại diện Uỷ ban nhân dân cấp xã, Viện kiểm sát nhân dân cùng cấp) mở khoá hay mở gói để kiểm tra, liệt kê cụ thể các tài sản và kê biên theo quy định của pháp luật.

– Đối với các việc cưỡng chế thi hành án khác hoặc xử lý tang vật, tài sản thi hành án, như: xử lý vật hứng, tiêu huỷ tài sản.v.v. mà cơ quan thi hành án dân sự đề nghị Uỷ ban nhân dân cấp xã tham gia, thì Uỷ ban nhân dân cấp xã cử đại diện là người có chuyên môn hoặc hiểu biết pháp luật tham gia.

  1. Chuyển cho cơ quan thi hành án dân sự những khoản tiền, tài sản của người phải thi hành án do mình đang quản lý theo yêu cầu của cơ quan thi hành án.

Trong số các biện pháp cưỡng chế thi hành án dân sự, thì biện pháp cưỡng chế khấu trừ tài khoản, trừ vào tiền, thu hồi giấy tờ có giá của người phải thi hành án hoặc kê biên tài sản cử người phải thi hành án đòi hỏi các cơ quan, tổ chức và cá nhân đang giữ tiền, tài sản, giấy tờ có giá của người phải thi hành án chuyển số tiền, tài sản hoặc giấy tờ có giá đó cho cơ quan thi hành án. Vì vậy, trong trường hợp Uỷ ban nhân dân cấp xã đang giữ tiền, tài sản, giấy tờ của người phải thi hành án bị áp dụng biện pháp cưỡng chế, thì có trách nhiệm chuyển số tiền, tài sản, giấy tờ có giá đó cho cơ quan thi hành án dân sự xử lý.

Đối với biện pháp cưỡng chế trừ vào thu nhập của người phải thi hành án được áp dụng trong trường hợp thi hành án cấp dưỡng, thi hành án theo định kỳ hoặc khoản tiền phải thi hành án không lớn; bản án quyết định ấn định biện pháp trừ vào thu nhập của người phải thi hành án hoặc do các bên đương sự thoả thuận. Mức cao nhất được trừ vào lương là 30% số lương hàng tháng; đối với những khoản thu nhập khác thì mức trừ căn cứ vào thu nhập thực tế của người phải thi hành án nhưng phải đảm bảo điều kiện sinh hoạt tối thiểu cho người phải thi hành án và người mà người phải thi hành án có nghĩa vụ nuôi dưỡng, cấp dưỡng theo quy định của pháp luật.

Trong trường hợp người phải thi hành án nhận thu nhập từ Uỷ ban nhân dân cấp xã, thì khi nhận được quyết định cưỡng chế trừ vào thu nhập của người phải thi hành án (ví dụ: lương của công chức thuộc Uỷ ban nhân dân cấp xã hoặc sinh hoạt phí của người phải thi hành án do Uỷ ban nhân dân cấp xã chi trả.v.v), Uỷ ban nhân dân cấp xã có trách nhiệm thực hiện việc khấu trừ vào thu nhập của người phải thi hành án. Trong thời hạn không quá bảy ngày làm việc kể từ ngày khấu trừ thu nhập, Uỷ ban nhân dân cấp xã có nghĩa vụ chuyển cho cơ quan thi hành án số tiền đó để chi trả cho người phải thi hành án. Khi có sự thay đổi nơi trả thu nhập và mức thu nhập của người phải thi hành án, Uỷ ban nhân dân cấp xã đang thực hiện quyết định trừ vào thu nhập của người phải thi hành án phải thông báo ngay cho cơ quan thi hành án biết.

  1. Xác nhận một số loại đơn của đương sự về thi hành án dân sự
  2. a) Xác nhận đơn chứng minh những sự kiện khách quan làm cho người được thi hành án không thể yêu cầu thi hành án đúng thời hạn yêu cầu thi hành án do pháp luật quy định

Căn cứ Điều 25 Pháp lệnh Thi hành án dân sự 2004 và Điều 7 Nghị định số 173/2004/NĐ-CP ngày 30/9/2004 của Chính phủ thì đối với việc thi hành án theo đơn yêu cầu, người được thi hành án có quyền yêu cầu thi hành án trong thời hạn luật định. Quá thời hạn này, nếu người được thi hành án không yêu cầu thi hành án thì hết thời hiệu yêu cầu thi hành án.

Tuy nhiên, nếu người yêu cầu thi hành án chứng minh được do trở ngại khách quan hoặc do sự kiện bất khả kháng mà không thể yêu cầu thi hành án đúng thời hạn thì thời gian có trở ngại khách quan hoặc sự kiện bất khả kháng đó không tính vào thời hiệu yêu cầu thi hành án. Người được thi hành án phải làm đơn kèm theo các tài liệu chứng minh về việc không yêu cầu thi hành án đúng hạn đề nghị Thủ trưởng cơ quan thi hành án xem xét khôi phục thời hiệu yêu cầu thi hành án. Đơn đề nghị khôi phục thời hiệu yêu cầu thi hành án phải có xác nhận của Uỷ ban nhân dân cấp xã nơi người đó cư trú và xác nhận của cơ quan y tế cấp huyện trở lên (đối với trường hợp ốm đau) hoặc cơ quan có thẩm quyền khác về việc vắng mặt không yêu cầu thi hành án đúng hạn.

Vì vậy, nếu người được thi hành án có đơn đề nghị khôi phục thời hiệu yêu cầu thi hành án, thì Uỷ ban nhân cấp xã xem xét xác nhận vào đơn đó. Khi xác nhận đơn yêu cầu khôi phục thời hiệu yêu cầu thi hành án, Uỷ ban nhân dân cấp cần lưu ý những trường hợp sau đây được coi là sự kiện bất khả kháng, trở ngại khách quan nên không thể yêu cầu thi hành án đúng hạn:

– Người được thi hành án, người phải thi hành án không nhận được bản án, quyết định mà không phải do lỗi của họ.

– Người được thi hành án, người phải thi hành án do yêu cầu công tác, chữa bệnh, thiên tai, hoả hoạn hay do trở ngại khách quan khác mà không thể  yêu cầu thi hành án đúng hạn.

– Người được thi hành án, người phải thi hành án chết mà chưa xác định được người thừa kế; tổ chức hợp nhất, sáp nhập, chia, tách, giải thể, cổ phần hoá mà chưa xác định được tổ chức, cá nhân mới có quyền yêu cầu thi hành án theo quy định của pháp luật.

– Do lỗi của cơ quan xét xử, cơ quan thi hành án hoặc cơ quan khác dẫn đến việc người được thi hành án không thể yêu cầu đúng hạn.

Người phải thi hành án có quyền chứng minh thời hiệu yêu cầu thi hành án đã hết.

  1. b) Xác nhận đơn của người phải thi hành án trình bày về việc không có tài sản để thi hành án

Theo quy định tại Điều 8 Nghị định số 173/2004/NĐ-CP ngày 30/9/2004 của Chính phủ thì một trong những căn cứ để xác định người phải thi hành án chưa có điều kiện thi hành nghĩa vụ về tài sản nếu họ không có tài sản để thi hành án. Trong trường hợp này, người phải thi hành án phải làm đơn trình bày có xác nhận của Uỷ ban nhân dân cấp xã nơi cư trú hoặc tổ chức nơi công tác, nơi quản lý thu nhập về việc người đó không có tài sản để thi hành án. Người được thi hành án có quyền chứng minh việc người phải thi hành án có tài sản để thi hành án.

Do đó, khi xác nhận đơn của người phải thi hành án trình bày về việc không có tài sản để thi hành án thì Uỷ ban nhân dân cấp xã phải xác nhận chính xác về vấn đề này.

  1. c) Đơn xin miễn, giảm chi phí cưỡng chế thi hành án của đương sự do thực sự có khó khăn về kinh tế

Pháp luật về thi hành án dân sự quy định trong trường hợp người phải thi hành án có điều kiện mà không tự nguyện thi hành án thì bị cưỡng chế thi hành án. Các chi phí cưỡng chế thi hành án do người phải thi hành án chịu, trừ trường hợp người phải thi hành án hoặc ngân sách nhà nước chịu.

Trong trường hợp đương sự thực sự có khó khăn về kinh tế, căn cứ Điều 38 Pháp lệnh Thi hành án dân sự 2004, Điều 28 Nghị định số 173/2004/NĐ-CP ngày 30/9/2004 của Chính phủ và Thông tư liên tịch số 68/2006/NĐ-CP ngày 26/07/2006 của Bộ Tài chính, Bộ Tư pháp, đương sự có thể làm đơn đề nghị Thủ trưởng cơ quan thi hành án nơi thi hành án xét miễn, giảm các khoản chi phí cưỡng chế thi hành án. Đơn đề nghị xét miễn, giảm chi phí cưỡng chế thi hành án phải có xác nhận của Uỷ ban nhân dân cấp xã nơi đương sự cư trú hoặc cơ quan nơi làm việc. Vì vậy, Uỷ ban nhân dân cấp xã cần lưu ý thực hiện tốt việc xác nhận loại đơn này.

  1. d) Đơn đề nghị miễn, giảm khoản án phí, tiền phạt

Theo Điều 32 Pháp lệnh Thi hành án dân sự 2004, Điều 18 Nghị định số 173/2004/NĐ-CP ngày 30/9/2004 của Chính phủ và hướng dẫn tại Thông tư liên tịch số 02/2005/TTLT-TANDTC-VKSNDTC-BTP-BCA-BTC ngày 17/6/2005 của Toà án nhân dân tối cao, Viện Kiểm sát nhân dân tối cao, Bộ Tư pháp, Bộ Công an và Bộ Tài chính, thì người phải thi hành án không có tài sản, thu nhập hoặc điều kiện khác để thi hành án có thể được xét miễn, giảm nghĩa vụ thi hành án sau khi hết thời hạn luật định. Cơ quan thi hành án dân sự hoặc Viện kiểm sát nhân dân lập hồ sơ đề nghị Toà án có thẩm quyền xem xét việc miễn, giảm thi hành án.

Hồ sơ đề nghị xét miễn, giảm thi hành án phải có đơn xin miễn, giảm thi hành án của người phải thi hành án. Đơn phải có xác nhận của Uỷ ban nhân dân cấp xã nơi người phải thi hành cư trú. Trường hợp người phải thi hành án đang làm việc tại cơ quan, tổ chức thì ngoài xác nhận của Uỷ ban nhân dân cấp xã, còn phải có xác nhận của Thủ trưởng cơ quan, tổ chức nơi người đó làm việc. Trong trường hợp người phải thi hành án đã lập công lớn phải có bản tường trình có xác nhận của cơ quan công an hoặc Uỷ ban nhân dân cấp xã và bản sao giấy tờ, tài liệu chứng minh việc lập công lớn (nếu có). Người phải thi hành án bị lâm vào hoàn cảnh kinh tế đặc biệt khó khăn kéo dài do thiên tai, địch hoạ, hoả hoạn, tai nạn hoặc ốm đau gây ra, thì cũng phải có xác nhận của Uỷ ban nhân dân cấp xã nơi người đó cư trú; cơ quan nơi người đó làm việc hoặc Giám thị trại giam nơi người đó chấp hành hình phạt tù. Trường hợp tai nạn, ốm đau kéo dài phải có xác nhận của cơ sở y tế từ cấp huyện trở lên.

Để xác nhận đơn xin miễn, giảm thi hành án đúng quy định, Uỷ ban nhân dân cấp xã phải nắm được các trường hợp miễn, giảm miễn thi hành án, với những điều kiện cụ thể sau đây:

– Đối với trường hợp miễn thi hành án:

+ Khi hết thời hạn năm năm, kể từ ngày ra quyết định thi hành án lần đầu,  người phải thi hành khoản tiền phạt trong các vụ án hình sự về ma tuý (các tội phạm về ma tuý) được miễn thi hành án khi có đủ các điều kiện sau đây: Không thuộc trường hợp phạm tội có tổ chức, phạm tội nhiều lần, lợi dụng chức vụ quyền hạn, thu lợi bất chính lớn. Số tiền phạt còn lại từ hai mươi triệu đồng trở xuống. Không có tài sản, không có thu nhập hoặc điều kiện khác để thi hành án (trừ trường hợp người phải thi hành án có tài sản chung chưa được phân chia hoặc vì lý do khách quan khác nên không xử lý được để thi hành án) hoặc bị lâm vào hoàn cảnh kinh tế đặc biệt khó khăn kéo dài do thiên tai, hoả hoạn, tai nạn hoặc ốm đau gây ra mà không thể chấp hành được số tiền phạt còn lại.

+ Khi chưa hết thời hạn năm năm, kể từ ngày ra quyết định thi hành án lần đầu, người phải thi hành khoản tiền phạt trong các vụ án hình sự về ma tuý được miễn thi hành án khi có đủ các điều kiện: Không thuộc trường hợp phạm tội có tổ chức, phạm tội nhiều lần, lợi dụng chức vụ quyền hạn, thu lợi bất chính lớn. Số tiền phạt còn lại từ hai mươi triệu đồng trở xuống. Đã chấp hành được một phần hình phạt tiền, trừ trường hợp người chưa thành niên khi phạm tội. Bị lâm vào hoàn cảnh kinh tế đặc biệt khó khăn kéo dài do thiên tai, hoả hoạn, tai nạn hoặc ốm đau gây ra mà không thể chấp hành hình phạt tiền còn lại hoặc lập công lớn.

+ Khi hết thời hạn mười năm, kể từ ngày ra quyết định thi hành án lần đầu, người phải thi hành khoản tiền phạt trong các vụ án hình sự về các loại tội phạm không phải là tội phạm về ma tuý hoặc người phải thi hành khoản tiền phạt trong các vụ án hình sự về ma tuý là người phạm tội có tổ chức, phạm tội nhiều lần, lợi dụng chức vụ, quyền hạn, thu lợi bất chính lớn được miễn thi hành án khi có đủ các điều kiện: Số tiền phạt còn lại từ hai mươi triệu đồng trở xuống. Không có tài sản, thu nhập hoặc điều kiện khác để thi hành án (trừ trường hợp người phải thi hành án có tài sản chung chưa được phân chia hoặc vì lý do khách quan khác nên không xử lý được để thi hành án) hoặc đã tích cực chấp hành được một phần hình phạt, nhưng bị lâm vào hoàn cảnh kinh tế đặc biệt khó khăn kéo dài do thiên tai, hoả hoạn, tai nạn hoặc ốm đau gây ra mà không thể chấp hành được số tiền phạt còn lại.

+ Khi chưa hết thời hạn mười năm, kể từ ngày ra quyết định thi hành án lần đầu, người phải thi hành khoản tiền phạt trong các vụ án hình sự về các loại tội phạm không phải là tội phạm về ma tuý hoặc người phải thi hành khoản tiền phạt trong các vụ án hình sự về ma tuý là người phạm tội có tổ chức, phạm tội nhiều lần, lợi dụng chức vụ, quyền hạn, thu lợi bất chính lớn được miễn thi hành án khi có đủ các điều kiện: Số tiền phạt còn lại từ hai mươi triệu đồng trở xuống. Đã chấp hành được một phần hình phạt tiền, trừ trường hợp người chưa thành niên khi phạm tội. Bị lâm vào hoàn cảnh kinh tế đặc biệt khó khăn kéo dài do thiên tai, hoả hoạn, tai nạn hoặc ốm đau gây ra mà không thể chấp hành được số tiền phạt còn lại hoặc lập công lớn.

+ Người phải thi hành khoản án phí nếu không có tài sản, thu nhập hoặc điều kiện khác để thi hành án (trừ trường hợp người phải thi hành án có tài sản chung chưa được phân chia hoặc vì lý do khách quan khác nên không xử lý được để thi hành án) hoặc bị lâm vào hoàn cảnh kinh tế đặc biệt khó khăn kéo dài do thiên tai, hoả hoạn, tai nạn hoặc ốm đau gây ra mà không thể chấp hành được số tiền án phí còn lại, được miễn thi hành án khi thuộc một trong các trường hợp sau đây: Đã hết thời hạn năm năm, kể từ ngày ra quyết định thi hành án lần đầu đối với khoản án phí không có giá ngạch. Đã hết thời hạn mười năm, kể từ ngày ra quyết định thi hành án lần đầu đối với khoản án phí có giá ngạch từ hai mươi triệu đồng trở xuống.

– Các trường hợp được giảm thi hành án:

+ Khi hết thời hạn năm năm, kể từ ngày ra quyết định thi hành án lần đầu, người phải thi hành khoản tiền phạt trong các vụ án hình sự về ma tuý được giảm thi hành án khi có đủ các điều kiện: Không thuộc trường hợp phạm tội có tổ chức, phạm tội nhiều lần, lợi dụng chức vụ, quyền hạn, thu lợi bất chính lớn. Số tiền phạt còn lại từ trên hai mươi triệu đồng. Không có tài sản, không có thu nhập hoặc điều kiện khác để thi hành án (trừ trường hợp người phải thi hành án có tài sản chung chưa được phân chia hoặc vì lý do khách quan khác nên không xử lý được để thi hành án) hoặc bị lâm vào hoàn cảnh kinh tế đặc biệt khó khăn kéo dài do thiên tai, hoả hoạn, tai nạn hoặc ốm đau gây ra mà không thể chấp hành được số tiền phạt còn lại.

+ Khi chưa hết thời hạn năm năm, kể từ ngày ra quyết định thi hành án lần đầu, người phải thi hành khoản tiền phạt trong các vụ án hình sự về ma tuý được giảm thi hành án khi có đủ các điều kiện: Là người chưa thành niên khi phạm tội. Không thuộc trường hợp phạm tội có tổ chức, phạm tội nhiều lần, lợi dụng chức vụ, quyền hạn, thu lợi bất chính lớn. Số tiền phạt còn lại từ trên hai triệu đồng. Bị lâm vào hoàn cảnh kinh tế đặc biệt khó khăn kéo dài do thiên tai, hoả hoạn, tai nạn hoặc ốm đau gây ra mà không thể chấp hành được số tiền phạt còn lại hoặc lập công lớn.

+ Khi hết thời hạn mười năm, kể từ ngày ra quyết định thi hành án lần đầu, người phải thi hành khoản tiền phạt trong các vụ án hình sự về các loại tội phạm không phải là tội phạm về ma tuý hoặc người phải thi hành khoản tiền phạt trong các vụ án hình sự về ma tuý là người phạm tội có tổ chức, phạm tội nhiều lần, lợi dụng chức vụ, quyền hạn, thu lợi bất chính lớn được giảm thi hành án khi có đủ các điều kiện: Số tiền phạt còn lại từ trên hai mươi triệu đồng. Không có tài sản, thu nhập hoặc điều kiện khác để thi hành án (trừ trường hợp người phải thi hành án có tài sản chung chưa được phân chia hoặc vì lý do khách quan khác nên không xử lý được để thi hành án) hoặc bị lâm vào hoàn cảnh kinh tế đặc biệt khó khăn kéo dài do thiên tai, hoả hoạn, tai nạn hoặc ốm đau gây ra mà không thể chấp hành được số tiền phạt còn lại.

+ Khi chưa hết thời hạn mười năm, kể từ ngày ra quyết định thi hành án lần đầu, người phải thi hành khoản tiền phạt trong các vụ án hình sự về các loại tội phạm không phải là tội phạm về ma tuý hoặc người phải thi hành khoản tiền phạt trong các vụ án hình sự về ma tuý là người phạm tội có tổ chức, phạm tội nhiều lần, lợi dụng chức vụ, quyền hạn, thu lợi bất chính lớn được giảm thi hành án khi có đủ các điều kiện: Là người chưa thành niên khi phạm tội. Số tiền phạt còn lại trên hai mươi triệu đồng. Bị lâm vào hoàn cảnh kinh tế đặc biệt khó khăn kéo dài do thiên tai, hoả hoạn, tai nạn hoặc ốm đau gây ra mà không thể chấp hành được số tiền phạt còn lại hoặc lập công lớn.

+ Người phải thi hành khoản án phí có giá ngạch trên hai mươi triệu đồng nếu không có tài sản, thu nhập hoặc điều kiện khác để thi hành án (trừ trường hợp người phải thi hành án có tài sản chung chưa được phân chia hoặc vì lý do khách quan khác nên không xử lý được để thi hành án) hoặc bị lâm vào hoàn cảnh kinh tế đặc biệt khó khăn kéo dài do thiên tai, hoả hoạn, tai nạn hoặc ốm đau gây ra mà không thể chấp hành được số tiền án phí còn lại được giảm thi hành án trong trường hợp đã đủ mười năm, kể từ ngày ra quyết định thi hành án lần đầu.

  1. d) Đơn đề nghị miễn, giảm phí thi hành án

Phí thi hành án là khoản tiền mà người được thi hành án có đơn yêu cầu thi hành án phải nộp phí thi hành án đối với khoản thi hành án có giá ngạch tính trên giá trị tài sản hoặc số tiền mà người đó thực nhận.

Mức thu phí thi hành án được tính trên số tiền hoặc giá trị tài sản thực nhận, như sau: Từ trên 1.000.000 đến 100.000.000 đồng là 5% của số tiền hoặc giá trị tài sản thực nhận, từ trên 100.000.000 đến 200.000.000 đồng là 5.000.000 đồng + 4% của phần tiền hoặc giá trị tài sản thực nhận vượt quá 100.000.000 đồng, từ trên 200.000.000 đến 500.000.000 đồng là 9.000.000 đồng + 3% của phần tiền hoặc giá trị tài sản thực nhận vượt quá 200.000.000 đồng, từ trên 500.000.000 đồng đến 1.000.000.000 đồng là 18.000.000 đồng + 2% của phần tiền hoặc giá trị tài sản thực nhận vượt quá 500.000.000 đồng, từ trên 1.000.000.000 đồng là 28.000.000 đồng + 0,1% của phần tiền hoặc giá trị tài sản thực nhận vượt quá 1.000.000.000 đồng.

Trong trường hợp có khó khăn về kinh tế hoặc thuộc diện gia đình chính sách, có công với cách mạng, neo đơn, tàn tật, ốm đau kéo dài, thì người được thi hành án có thể được miễn, giảm phí thi hành án, cụ thể là:

– Giảm 50% phí thi hành án đối với người được thi hành án là người có khó khăn về kinh tế. Người có khó khăn về kinh tế được giảm phí thi hành án là người thuộc chuẩn nghèo theo quy định tại Quyết định số 170/2005/QĐ-TTg ngày 08/7/2005 của Thủ tướng Chính phủ về việc ban hành chuẩn nghèo áp dụng cho giai đoạn 2006 – 2010.

– Miễn phí thi hành án đối với người được thi hành án là người thuộc diện gia đình chính sách, có công với cách mạng theo quy định của Pháp lệnh Ưu đãi người có công giúp đỡ cách mạng và các văn bản hướng dẫn thi hành.

– Miễn phí thi hành án đối với người được thi hành án là người thuộc diện neo đơn, tàn tật, ốm đau kéo dài.

Để được miễn, giảm phí thi hành án, đương sự phải làm đơn đề nghị được miễn hoặc giảm phí thi hành án (kèm theo các tài liệu có liên quan nếu có) có xác nhận của một trong những cơ quan, đơn vị là Uỷ ban nhân dân cấp xã, cơ quan, tổ chức nơi người đó cư trú, sinh sống, làm việc hoặc có xác nhận của bệnh viện, cơ quan y tế cấp huyện trở lên (đối với trường hợp ốm đau kéo dài). Đơn đề nghị được miễn hoặc giảm phí thi hành án (kèm theo các tài liệu có liên quan nếu có) được nộp cho cơ quan thu phí. Thủ trưởng cơ quan thu phí nơi nhận đơn xem xét, ra quyết định việc miễn hoặc giảm phí thi hành án theo quy định tại Thông tư này. Trường hợp người làm đơn không được miễn hoặc giảm phí thi hành án thì cơ quan thu phí phải có thông báo cho đương sự biết và nêu rõ lý do về việc không được miễn hoặc giảm phí thi hành án. Thời gian xem xét việc miễn hoặc giảm phí thi hành án không quá mười lăm ngày làm việc kể từ ngày nhận được đơn đề nghị được miễn hoặc giảm phí thi hành án.

Việc xác nhận của Uỷ ban nhân dân cấp xã vào đơn xin miễn, giảm phí thi hành theo mẫu sau đây:

Mẫu đơn

  1. Tạo điều kiện thuận lợi, bố trí địa điểm, chỗ làm việc để cơ quan thi hành án triệu tập đương sự đến làm việc và những công việc khác theo quy định của pháp luật

Khoản 2 Điều 14 Pháp lệnh Thi hành án dân sự 2004 quy định Chấp hành viên cơ quan thi hành án dân sự có trách nhiệm triệu tập đương sự, người có liên quan đến trụ sở cơ quan thi hành án hoặc Uỷ ban nhân dân cấp xã nơi thi hành án để thực hiện việc thi hành án. Do vậy, Uỷ ban nhân dân cấp xã cần chú trọng việc bố trí chỗ làm việc nhất định, tạo điều kiện thuận lợi để cơ quan thi hành án thực hiện nhiệm vụ thi hành án ở địa phương.

Do tính chất không thường xuyên, liên tục của việc thi hành án dân sự thực hiện ở Uỷ ban nhân dân cấp xã, vì vậy, Uỷ ban nhân dân cấp xã có thể bố trí chỗ làm việc cho cơ quan thi hành án kết hợp với chỗ làm việc của công chức thuộc Uỷ ban nhân dân cấp xã. Ngoài ra, những điều kiện làm việc khác, như: bàn ghế, nước uống.v.v. cũng cần bố trí đảm bảo để tạo điều kiện cho việc thực hiện thi hành án hiệu quả.

  1. 9. Yêu cầu người bị kết án cải tạo không giam giữ khai báo và giao nộp đầy đủ phần thu nhập bị khấu trừ theo quyết định của Toà án cho cơ quan thi hành án dân sự

Khoản 3 Điểu 31 Bộ luật hình sự 1999 quy định người bị kết án cải tạo không giam giữ phải thực hiện một số nghĩa vụ theo các quy định về cải tạo không giam giữ và bị khấu trừ một phần thu nhập từ 5% đến 20% để sung quỹ nhà nước, trong trường hợp đặc biệt, Toà có thể cho miễn việc khấu trừ thu nhập, nhưng phải ghi rõ lý do trong bản án. Khoản 8 Điều 4 Nghị định số 60/2000/NĐ-CP ngày 30/10/2000 của Chính phủ quy định người bị kết án cải tạo không giam giữ có trách nhiệm khai báo và giao nộp đầy đủ phần thu nhập bị khấu trừ theo quyết định của Toà án cho cơ quan thi hành án dân sự, nếu không nộp đúng hạn thì phải chịu lãi suất theo quy định của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam.

Uỷ ban nhân dân cấp xã được giao giám sát, giáo dục người bị kết án cải tạo không giam giữ yêu cầu người bị kết án cải tạo không giam giữ khai báo và giao nộp đầy đủ phần thu nhập bị khấu trừ theo quyết định của Toà án cho cơ quan thi hành án dân sự.

  1. Trực tiếp đôn đốc việc thi hành án có giá trị không quá 500.000 đồng được cơ quan thi hành án chuyển giao

Đây là nhiệm vụ, quyền hạn mà Uỷ ban nhân dân cấp xã được giao thực hiện theo quyết định chuyển giao của cơ quan thi hành án quy định tại Chỉ thị số 20/CT-TTg ngày 11/9/2001 của Thủ tướng Chính phủ “về tăng cường và nâng cao hiệu quả công tác thi hành án dân sự, Thông tư liên tịch số 15/2002/TTLT-BTC-BTP ngày 8/2/2002 của Bộ Tài chính, Bộ Tư pháp và Thông tư số 05/2002/ TT-BTP ngày 27/2/2002 của Bộ Tư pháp.

Để làm tốt công việc này, Uỷ ban nhân dân cấp xã cần xác định một số vấn đề cơ bản sau đây:

Thứ nhất, Uỷ ban nhân dân cấp xã chỉ được trực tiếp đôn đốc thi hành đối với các vụ việc thi hành án có giá trị không quá 500.000 đồng, cụ thể là:

– Vụ việc mà số tiền, trị giá tài sản đương sự phải thi hành không quá 500.000 đồng hoặc lớn hơn 500.000 đồng nhưng trước đó cơ quan thi hành án đã  thi hành và số tiền, trị giá tài sản còn lại phải thi hành không quá 500.000 đồng.

– Vụ việc thi hành theo định kỳ mà số tiền, trị giá tài sản thi hành theo từng  kỳ không quá 500.000 đồng.

– Thi hành quyết định phạt tiền của Chấp hành viên, Thủ trưởng cơ quan thi hành án.

– Các khoản tiền chi phí cưỡng chế thi hành án không quá 500.000 đồng trong trường hợp cơ quan thi hành án chưa thu được hoặc không có điều kiện khấu trừ vào số tiền bán tài sản để thi hành án.

Thứ hai, Chủ tịch Uỷ ban nhân dân cấp xã chịu trách nhiệm trước cơ quan thi hành án và Uỷ ban nhân dân cấp trên về việc đôn đốc thi hành án tại địa phương mình.

Để làm tốt nhiệm vụ trực tiếp đôn đốc thi hành án, Chủ tịch Uỷ ban nhân dân cấp xã cần:

– Thực hiện việc bố trí công chức Tư pháp – Hộ tịch thường xuyên thực hiện việc đôn đốc thi hành án.

– Tạo điều kiện cần thiết về cơ sở vật chất, phương tiện làm việc cho hoạt động thi hành án như: phòng làm việc, tủ đựng tài liệu.v.v.

– Trực tiếp chỉ đạo việc đôn đốc thi hành án, đảm bảo cho việc đôn đốc thi hành án nhanh chóng, đúng pháp luật, như: điều hành cán bộ, phối hợp các đơn vị, các đoàn thể trong hoạt động đôn đốc thi hành án; kiểm tra giám sát việc đôn đốc của công chức Tư pháp – Hộ tịch cấp xã; kiến nghị cơ quan thi hành án và cơ quan có thẩm quyền giải quyết những vướng mắc trong việc đôn đốc thi hành án.

– Thực hiện việc báo cáo hoạt động đôn đốc thi hành án tại địa phương theo định kỳ tháng, quý, năm cho cơ quan thi hành án và Uỷ ban nhân dân cấp trên.

– Sáu tháng hoặc một năm cần có sơ kết, tổng kết việc đôn đốc thi hành án.

Thứ ba, việc thu tiền thi hành án phải thực hiện theo nội dung chuyển giao đôn đốc của cơ quan thi hành án trong việc thu nộp các khoản tiền thi hành án. Uỷ ban nhân dân cấp xã phải hạn chế tối đa việc thu giữ và bảo quản tài sản thi hành án. Đối với tài sản đã thu được, nếu thuộc diện trả cho người được thi hành án, thì cần thông báo ngay để người được thi hành án nhận tài sản; nếu tài sản phải bán để thi hành, thì hướng dẫn đương sự nộp cho cơ quan thi hành án, trong trường hợp cần thu ngay, thì nhanh chóng nộp cho cơ quan thi hành án. Khi thu nhận tài sản, cán bộ cấp xã được phân công phải lập biên bản, ghi rõ tình trạng tài sản có xác nhận của người nộp, người chứng kiến. Trong trường hợp cần bảo quản tài sản do chưa bán được hoặc chưa trả được cho người phải thi hành án và nếu không có điều kiện bảo quản, thì Uỷ ban nhân dân có thể thuê tổ chức, cá nhân bảo quản. Trường hợp tài sản được bảo quản tại trụ sở Uỷ ban nhân dân, thì tạo điều kiện về kho bãi để tránh mất mát hư hỏng tài sản.

Thứ tư,thực hiện đúng cơ chế quản lý tài chính đối với các vụ thi hành án do Uỷ ban nhân dân cấp xã trực tiếp đôn đốc thi hành.

Đối với các vụ phải thi hành án có số thu có giá trị không quá 500.000 đồng, cơ quan thi hành án ra quyết định thi hành án và uỷ nhiệm cho Uỷ ban nhân dân cấp xã trực tiếp đôn đốc thi hành, số tiền Uỷ ban nhân dân cấp xã đã thu được xử lý như sau:

– Đối với các vụ thi hành án mà số tiền, tài sản thu được phải trả cho người được thi hành án thì sau khi thu được Uỷ ban nhân dân cấp xã nộp 100 % số tiền đã thu được của vụ án đó cho cơ quan thi hành án để thực hiện chi trả cho người được thi hành án, trừ trường hợp được cơ quan thi hành án uỷ quyền chi trả.

– Đối với các vụ thi hành án có số thu phải nộp ngân sách nhà nước, sau khi đối chiếu và có xác nhận của cơ quan thi hành án, thì Uỷ ban nhân dân cấp xã được để lại 100% số thu đó để thực hiện chi hỗ trợ công tác thi hành án ở cơ sở dưới sự giám sát của cơ quan thi hành án gồm các nội dung chi sau:

+ Chi trả thù lao cho những đối tượng tham gia vào việc đôn đốc thu về thi hành án dân sự như: chi cho công tác xác minh về tài sản thi hành án, chi thực hiện việc tống đạt các quyết định, thông báo về thi hành án hoặc tham gia vào việc xác minh điều kiện thi hành án của công tác thi hành án dân sự trên địa bàn. Mức chi trả thù lao cụ thể do Uỷ ban nhân dân cấp xã quyết định nhưng không quá 50.000 đồng/vụ.

+ Chi tổ chức họp sơ kết, tổng kết về công tác thi hành án ở cơ sở.

+ Chi mua văn phòng phẩm phục vụ công tác thi hành án.

+ Chi khác (nếu có).

– Đối với các vụ thi hành án có số thu bằng hiện vật có giá trị không quá 500.000 đồng, cơ quan thi hành án phối hợp với Uỷ ban nhân dân cấp xã tổ chức bán đấu giá tài sản theo đúng quy định hiện hành về bán đấu giá tài sản.

Trong việc thu, chi tiền và xuất nhập tài sản thi hành án, Uỷ ban nhân dân cấp xã phải lập chứng từ và mở sổ sách theo dõi, quản lý đúng chế độ quy định theo hướng dẫn của Bộ Tư pháp. Cuối tháng, Uỷ ban nhân dân cấp xã phải lập báo cáo kết quả thực hiện công tác thi hành án tại cơ sở chi tiết theo từng vụ án. Cuối quý, cuối năm lập báo cáo quyết toán số tiền đã thu, số tiền được để lại chi, số tiền đã chi, số tiền đã giao cho cơ quan thi hành án gửi Thi hành án dân sự cấp huyện để tổng hợp báo cáo, đồng thời gửi báo cáo quý, năm cho cơ quan tài chính cấp trên để theo dõi quản lý.

– Chủ tịch Uỷ ban nhân dân cấp xã có trách nhiệm huy động lực lượng công an, dân quân tự vệ, phối hợp các tổ chức, đoàn thể địa phương để bảo vệ, hỗ trợ  việc cưỡng chế thi hành án.

Nếu đương sự có hành vi cản trở, chống đối việc thi hành án, thì đề nghị chấp hành viên, thủ trưởng cơ quan thi hành án ra quyết định phạt tiền theo quy định của pháp luật.

– Phối hợp với cơ quan thi hành án trong việc tổ chức bán đấu giá tài sản để thi hành án. Trong trường hợp tài sản thu được thuộc loại mau hỏng (như rau quả, thực phẩm tươi sống…), để tránh thiệt hại, thì lập biên bản ghi rõ tình trạng tài sản và tổ chức bán, đồng thời thông báo cho cơ quan thi hành án biết.

– Lập biên bản về việc thi hành trực tiếp giữa các đương sự với nhau về các khoản tiền, tài sản theo hướng dẫn của cơ quan thi hành án cấp huyện; chi tiền thi hành án cho đương sự khi được cơ quan thi hành án uỷ quyền.

– Việc thu thi hành án phải sử dụng biên lai do cơ quan thi hành án cấp huyện cấp và phải quản lý, sử dụng biên lai đúng quy định.

Để thực hiện tốt những công việc mà Uỷ ban nhân dân xã tham gia vào công tác thi hành án dân sự thì cần chú trọng phát huy vai trò của công chức Tư pháp – Hộ tịch cấp xã. Theo quy định của Pháp lệnh Cán bộ, công chức (sửa đổi) ngày 29/04/2003, có hiệu lực từ ngày 1/7/2003, Nghị định số 114/2003/NĐ-CP ngày 10/10/2003 của Chính phủ về cán bộ, công chức xã, phường, thị trấn và khoản 2 Điều 11 Thông tư số 03/2004/TT-BNV ngày 16/01/2004 của Bộ Nội vụ và Thông tư liên tịch số 04/2005/TTLT-TP-NV ngày 05/05/2005 của Bộ Tư pháp, Bộ Nội vụ thì công chức Tư pháp – Hộ tịch là chức danh chuyên môn nghiệp vụ thuộc Uỷ ban nhân dân cấp xã, được xác định là công chức có trách nhiệm thực hiện những công việc về thi hành án khi Uỷ ban nhân dân cấp xã phân công.

Với tư cách là công chức chuyên môn thuộc Uỷ ban nhân dân cấp xã, công chức Tư pháp – Hộ tịch giúp Uỷ ban nhân dân cấp xã thực hiện các công việc về thi hành án thuộc thẩm quyền và trách nhiệm của Uỷ ban nhân dân cấp xã, đồng thời thực hiện nhiệm vụ công vụ của mình do pháp luật quy định.

Căn cứ Pháp lệnh thi hành án dân sự ngày 14/1/2004 và các văn bản pháp luật khác về công tác thi hành án dân sự, công chức Tư pháp – Hộ tịch thực hiện những công việc thi hành án dân sự thuộc nhiệm vụ, quyền hạn của Uỷ ban nhân dân cấp xã. Trong việc tham gia thực hiện thi hành án dân sự, công chức Tư pháp – Hộ tịch cần nêu cao tinh thần trách nhiệm của công chức chuyên môn nghiệp vụ, chủ động đề xuất biện pháp thực hiện tốt nhiệm vụ, quyền hạn về thi hành án dân sự của Uỷ ban nhân dân cấp xã. Trong quá trình tham gia thi hành án, công chức Tư pháp – Hộ tịch phải lưu ý những vấn đề cơ bản sau đây:

Một là, trong việc thực hiện thông báo về thi hành án

Công chức Tư pháp – Hộ tịch cấp xã có nghĩa vụ thực hiện việc thông báo về thi hành án trong trường hợp người được thông báo không phải là người đang công tác hoặc làm việc ổn định tại một cơ quan, tổ chức nào và cũng không có người thân thích có năng lực hành vi dân sự đầy đủ cùng sống trong một gia đình nên cơ quan thi hành án không thể thông báo trực tiếp được, do đó giao cho công chức Tư pháp – Hộ tịch cấp xã có nhận thay. Cơ quan thi hành án sẽ lập biên bản xác định rõ trách nhiệm của người nhận thay trong việc chuyển thông báo cho người được thông báo. Công chức Tư pháp – Hộ tịch phải cam kết chuyển cho người được thông báo để xác định thời điểm người được thông báo nhận được thông báo là thời điểm người nhận. Ví dụ: Trong trường hợp thông báo quyết định thi hành án cho người phải thi hành án là ông A, ngày 03/03/2006 công chức Tư pháp – Hộ tịch cấp xã  nhận thay và cam kết sẽ chuyển quyết định thi hành án cho người phải thi hành án vào ngày 04/03/2006, thì ngày 04/03/2006 được xác định là thời điểm người phải thi hành án nhận được thông báo.

Vì vậy, khi nhận thay thông báo về thi hành án, công chức Tư pháp – Hộ tịch cần kịp thời chuyển giao trực tiếp cho người được nhận thông báo. Trường hợp vì lý do khách quan mà không chuyển thông báo cho người được thông báo, thì phải báo cho cơ quan thi hành án biết. Trong trường hợp này, cơ quan thi hành án thực hiện việc thông báo bằng hình thức niêm yết công khai hoặc thông báo trên phương tiện thông tin đại chúng theo quy định tại điểm b, c khoản 2 Điều 34 Pháp lệnh Thi hành án dân sự năm 2004.

Hai là, trong việc báo gọi đương sự đến trụ sở Uỷ ban nhân dân cấp xã để giải quyết việc thi hành án

Công chức Tư pháp – Hộ tịch chỉ được báo gọi giải quyết việc thi hành án trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của Uỷ ban nhân dân cấp xã đối với việc đôn đốc loại án có giá trị không quá 500.000 đồng đã được cơ quan thi hành án dân sự chuyển giao. Nếu xét thấy, nội dung giải quyết về thi hành án vượt quá thẩm quyền thì phải báo cáo cho Thi hành án dân sự cấp huyện biết để có biện pháp giải quyết.

Ba là, trong việc động viên, giáo dục, thuyết phục đương sự tự nguyện thi hành án

Là người có điều kiện thuận lợi trong việc tiếp xúc trực tiếp với đương sự, dễ nắm được hoàn cảnh gia đình, điều kiện kinh tế của đương sự, công chức Tư pháp – Hộ tịch có khả năng động viên, giáo dục, thuyết phục người phải thi hành án tự nguyện thi hành án. Công chức Tư pháp – Hộ tịch có thể kết hợp với các tổ chức, đoàn thể ở địa phương, Tổ trưởng Tổ dân phố, Trưởng thôn, Già làng, Trưởng bản để động viên, giáo dục, thuyết phục người phải thi hành án tự nguyện thi hành án.

Về hoà giải thoả thuận thi hành án, công chức Tư pháp – Hộ tịch chỉ được lập biên bản đồng ý để các bên đương sự thoả thuận với nhau về thời gian, địa điểm và phương thức thi hành án, mà không được ép buộc các đương sự thoả thuận thi hành án trái pháp luật và đạo đức xã hội. Khi hoà giải các đương sự thoả thuận về thi hành án thì cần lập biên bản ghi rõ nội dung thoả thuận của các đương sự, có chữ ký của đương sự và của công chức Tư pháp – Hộ tịch.

Trong trường hợp các đương sự thoả thuận về việc hoãn, không yêu cầu thi hành một phần hoặc toàn bộ bản án, quyết định của Toà án thì lập biên bản gửi cơ quan thi hành án giải quyết theo quy định của pháp luật.

Bốn là, trong việc xác minh điều kiện thi hành án

Khi xác minh điều kiện thi hành án đối với việc thi hành án trực tiếp được giao đôn đốc thi hành, công chức Tư pháp – Hộ tịch phải lập biên bản ghi rõ điều kiện về tài sản, nhân thân của đương sự, cũng như các thông tin cần thiết khác. Biên bản xác minh phải có nội dung và hình thức bảo đảm tính chính xác, khách quan, rõ ràng như: phải có xác nhận của cơ quan quản lý tài sản, thu nhập, cũng như người chứng kiến cần thiết khác, chữ ký của đương sự.v.v. và được Chủ tịch Uỷ ban nhân dân cấp xã xác nhận và đóng dấu.

Năm là,  trong việc cưỡng chế thi hành án

Khi phát hiện thấy người phải thi hành án có tài sản, thu nhập hoặc có điều kiện thi hành án khác nhưng không tự nguyện thi hành, thì công chức Tư pháp – Hộ tịch cần đề nghị cơ quan thi hành án áp dụng biện pháp cưỡng chế cần thiết. Trường hợp nhằm tránh việc đương sự tẩu tán tài sản, trốn tránh nghĩa vụ thi hành án, công chức Tư pháp – Hộ tịch có thể đề xuất với Chủ tịch Uỷ ban nhân dân cấp xã áp dụng biện pháp hành chính cần thiết để ngăn chặn việc mua bán, chuyển nhượng tài sản, như: không xác nhận, chứng nhận việc mua bán tài sản hoặc đề nghị cơ quan chức năng ngăn chặn việc chuyển dịch tài sản của đương sự.

Công chức Tư pháp – Hộ tịch còn tham gia vào việc cưỡng chế thi hành án dân sự với những loại công việc khác như: Tham gia tổ chức kê biên, định giá tài sản, cưỡng chế giao nhà, chuyển quyền sử dụng đất, cưỡng chế giao đồ vật, buộc phải làm hoặc không được làm công việc nhất định hoặc bảo quản các tài sản đã kê biên, bảo vệ không để tình trạng tẩu tán, huỷ hoại tài sản đã kê biên, bảo vệ cưỡng chế thi hành án.v.v.

Sáu là, trong việc lập biên bản thu và trả tiền, tài sản thi hành án

Trong quá trình thực hiện đôn đốc việc thi hành án được giao, công chức Tư pháp – Hộ tịch có thể lập biên bản “thu và trả tiền, tài sản thi hành án”. Khi lập biên bản phải ghi đầy đủ họ tên của người nộp, người nhận tiền, tài sản; số tiền, tài sản giao nhận; họ tên người tham gia giao nhận và có đóng dấu, xác nhận của Chủ tịch Uỷ ban nhân dân cấp xã.

Trong trường hợp giao tài sản để thi hành án, nếu tài sản lớn hơn giá trị số tiền phải thi hành án và người được thi hành án đồng ý nhận tài sản đó để thi hành án thì công chức Tư pháp – Hộ tịch yêu cầu người nhận tài sản thanh toán phần giá trị chênh lệch cho người phải thi hành án trên cơ sở thoả thuận của các đương sự. Nếu hai bên thoả thuận không được thì đề nghị cơ quan thi hành án giải quyết theo quy định của pháp luật.

Bảy là, trong việc thu, chi tiền thi hành án

Trong việc thu tiền thi hành án, công chức Tư pháp – Hộ tịch phải sử dụng đúng hướng dẫn tại Thông tư số 15/2002/TTLT-BTC-BP ngày 08/2/2002 của Bộ Tư pháp đối với những vụ việc thi hành án được chuyển giao, không được sử dụng các loại chứng từ khác ngoài biên lai do cơ quan thi hành án cấp, như: phiếu thu hoặc giấy biên nhận. Trong trường hợp được cơ quan thi hành án uỷ quyền chi tiền thi hành án thì nội dung uỷ quyền chi tiền, tài sản có thể thể hiện trong quyết định chuyển giao đôn đốc loại án có giá trị không quá 500.000 đồng hoặc lập uỷ quyền riêng. Công chức Tư pháp – Hộ tịch phải chi đúng nội dung được uỷ quyền và thông báo lại cho cơ quan thi hành án biết về việc thực hiện uỷ quyền chi tiền thi hành án.

 Theo Lê Anh Tuấn

 

613 Lượt xem