[Thuế thu nhập cá nhân] – Người nước ngoài nội thuế thu nhập cá nhân tại Việt Nam khi nào ?

Hỏi:

Chồng tôi là người nước ngoài, làm việc trong doanh nghiệp 100% vốn đầu tư nước ngoài tại Khu công nghiệp, chồng tôi thường xuyên đi công tác nước ngoài có khi vài tháng mới về Việt Nam.
Xin hỏi, chồng tôi có phải đóng thuế thu nhập cá nhân theo quy định của Luật thuế thu nhập cá nhân hiện hành hay không? (Hà Giang Bình, Thái Nguyên).

Đáp:

1. Quy định về đối tượng nộp thuế TNCN

Theo quy định tại Điều 2 Luật thuế thu nhập cá nhân năm 2007 và Nghị định số 65/2013/NĐ-CPngày 27/6/2013 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều của Luật thuế TNCN thì đối tượng phải nộp thuế TNCN là:

– Cá nhân cư trú tại Việt Nam có thu nhập chịu thuế phát sinh trong và ngoài lãnh thổ Việt Nam.

– Cá nhân không cư trú có thu nhập chịu thuế phát sinh trong lãnh thổ Việt Nam.

Để phân biệt cá nhân cư trú hay không cư trú tại Việt Nam căn cứ vào thời gian người đó có mặt tại Việt Nam trong một năm hoặc người đó có nơi ở thường xuyên tại Việt Nam không. Một người được coi là cư trú tại Việt Nam khi đáp ứng một trong các điều kiện:

– Có mặt tại Việt Nam từ 183 ngày trở lên tính trong một năm dương lịch hoặc trong 12 tháng liên tục kể từ ngày đầu tiên có mặt tại Việt Nam;

– Có nơi ở thường xuyên tại Việt Nam, bao gồm có nơi ở đăng ký thường trú (theo quy định của pháp luật về cư trú) hoặc có nhà thuê để ở tại Việt Nam theo hợp đồng thuê có thời hạn (với thời hạn của các hợp đồng thuê từ 183 ngày trở lên trong năm tính thuế).

Với quy định nêu trên thì Chồng bà thuộc đối tượng phải nộp thuế thu nhập cá nhân theo quy định của pháp luật, vì những lý do sau:

- Trường hợp thứ nhất: Nếu thời gian chồng bà có mặt ở Việt Nam từ 183 ngày trở lên thì theo quy định tại Điểm a Khoản 2 Điều 2 Luật thuế TNCN thì chồng bà thuộc đối tượng phải nộp thuế TNCN.

- Trường hợp thứ hai: Giả sử chồng bà có thời gian đi công tác nước ngoài vài tháng dẫn đến thời gian có mặt tại Việt Nam dưới 183 ngày nhưng chồng bà là người có nơi ở thường xuyên tại Việt Nam (ở cùng bà hoặc thuê nhà tại Việt Nam) do đó chồng bà thuộc đối tượng là cá nhân cư trú tại Việt Nam theo quy định tại Điểm b Khoản 2 Điều 2 Luật thuế TNCN  nên phải đóng thuế TNCN.

- Trường hợp thứ ba: Giả sử chồng bà có thời gian đi công tác nước ngoài vài tháng dẫn đến thời gian có mặt tại Việt Nam dưới 183 ngày và cũng không có nơi ở thường xuyên tại Việt Nam (như không ở cùng bà, không thuê nhà ở Việt Nam, mỗi khi ở Việt Nam thì ông ta ở khách sạn, nhà khách, trụ sở cơ quan…), do đó thuộc đối tượng là cá nhân không cư trú tại Việt Nam nhưng chồng bà có thu nhập (lương) từ doanh nghiệp đặt tại Việt Nam (đây là thu nhập chịu thuế phát sinh trong lãnh thổ Việt Nam) theo quy định tại đoạn 1 Khoản 1 Điều 2 Luật thuế Thu nhập cá nhân nên chồng bà phải đóng thuế thu nhập cá nhân.

566 Lượt xem