Để thống nhất trong việc quản lý doanh nghiệp

Luật Doanh nghiệp và Luật Đầu tư là hai luật luôn đi đôi với nhau để điều chỉnh tất cả các vấn đề liên quan đến doanh nghhiệp như: thành lập doanh nghiệp, tổ chức quản lý của doanh nghiệp, hoạt động đầu tư của doanh nghiệp… Tuy nhiên chỉ mới hơn một năm kể từ ngày hai luật này có hiệu lực (ngày 01 tháng 01 năm 2006), trong quá trình thực hiện hai luật trên, doanh nghiệp gặp phải rất nhiều vướng mắc.

Việc một số quy định trong hai luật mâu thuẫn và chồng chéo nhau làm cho doanh nghiệp lúng túng trong quá trình hoạt động của mình. Nghiên cứu hai luật này chúng ta thấy rằng có rất nhiều vấn đề cần phải làm sáng tỏ để cho hoạt động kinh doanh được điều chỉnh thống nhất, tránh tình trạng doanh nghiệp khó xử khi phải đứng giữa hai luật. Sau khi nghiên cứu hai luật và các văn bản dưới luật có liên quan, chúng tôi rút ra một số kết luận sau:

Như ta đã biết phạm vi điều chỉnh của Luật Doanh nghiệp là việc thành lập, tổ chức quản lý và hoạt động của doanh nghiệp; còn phạm vi điều chỉnh của Luật Đầu tư là hoạt động đầu tư nhằm mục đích kinh doanh. Rõ ràng phạm vi điều chỉnh về nguyên tắc thì hoàn toàn tách bạch nhau nhưng khi đi vào chi tiết cụ thể thì lại chồng chéo nhau. Liên quan đến vấn đề hoạt động của doanh nghiệp, đáng lẽ ra Luật đầu tư chỉ cần điều chỉnh việc cấp GCNĐT nhưng trên thực tế lại điều chỉnh cả việc cấp GCNĐKKD cho doanh nghiệp bằng một quy định rất nực cười là: GCNĐT đồng thời là GCNĐKKD.

Như vậy đâu phải Luật đầu tư không điều chỉnh việc thành lập một doanh nghiệp. Vậy là Luật đầu tư đã lấn sân Luật doanh nghiệp tạo ra những vướng mắc rất khó giải quyết, chẳng hạn như một doanh nghiệp có GCNĐT đồng thời là GCNĐKKD có quyền thay đổi ĐKKD tại cơ quan ĐKKD được hay không? Đây là một câu hỏi rất khó trả lời vì trong con mắt của Luật doanh nghiệp thì những doanh nghiệp trên chưa được cấp GCNĐKKD. Rõ ràng việc không tách bạch thẩm quyền của hai Luật này đã dẫn đến khó khăn cho doanh nghiệp. Phải chăng khi soạn thảo 2 luật, người ta đã không xem xét, đối chiếu 2 luật với nhau để tìm ra và sửa chữa những xung đột và chồng chéo.

Khoản 2 Điều 50 của Luật đầu tư quy định: Tổ chức kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài đã thành lập tại Việt Nam nếu có dự án đầu tư mới thì được làm thủ tục thực hiện dự án đầu tư đó mà không nhất thiết phải thành lập tổ chức kinh tế mới. Quy định này quả là không rõ ràng. Không biết rằng khi một tổ chức kinh tế được thành lập theo Luật đầu tư, tức là tổ chức kinh tế đó được thành lập gắn với dự án đầu tư thì có đủ tư cách pháp lý để xin dự án khác hay không? Doanh nghiệp được thành lập gắn với dự án đầu tư có nghĩa là dự án đầu tư đã khai sinh ra doanh nghiệp đó chứ không phải Luật doanh nghiệp tạo ra nó, chính vì vậy mà nó không thể có tư cách pháp lý để tiến hành một dự án đầu tư mới.

Như thế thì doanh nghiệp nếu không có GCNĐKKD độc lập, tức là không có giấy chứng nhận ĐKKD do cơ quan ĐKKD cấp, thì không thể tiến hành nhiều hơn 1 dự án đầu tư. Xem ra nhà đầu tư nước ngoài được tạo thuận lợi khi tiến hành dự án đầu tư lần đầu tiên vì họ vẫn có thể thành lập được doanh nghiệp mà không cần phải thực hiện thủ tục thành lập doanh nghiệp, nhưng khi doanh nghiệp của họ tiến hành một dự án đầu tư khác thì không được chấp nhận vì nó không có đủ tư cách pháp lý, đơn giản bởi vì nó không được thành lập theo Luật doanh nghiệp. Điều này mới nhìn qua thì tưởng là tăng cường thu hút đầu tư nước ngoài nhưng thực chất lại cản trở đầu tư lâu dài của nhà đầu tư nước ngoài tại Việt Nam.

Thủ phạm của việc này không gì khác hơn là sự lấn sân vào Luật Doanh nghiệp của Luật đầu tư. Do vậy cần phải trả lại thẩm quyền cấp GCNĐKKD cho Luật doanh nghiệp, bởi vì đã là doanh nghiệp thì phải đăng ký kinh doanh theo luật doanh nghiệp.

Ngoài những quy định trên thì Luật đầu tư còn phân biệt đối xử giữa nhà đầu tư trong nước và nhà đầu tư nước ngoài. Nhà đầu tư trong nước phải xin dự án đầu tư theo Luật đầu tư và phải thành lập tổ chức kinh tế theo Luật doanh nghiệp; còn nhà đầu tư nước ngoài chỉ cần có giấy chứng nhận đầu tư thì coi như đã thành lập doanh nghiệp. Thậm chí không thể hiểu được tại sao Luật đầu tư lại không công nhận doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài được thành lập ở Việt Nam là nhà đầu tư trong nước.

Sau khi nhận được giấy chứng nhận đầu tư, nhà đầu tư cũng không vì thế mà có thể cắt đuôi được các giấy phép khác như: giấy phép xây dựng, giấy phép của cơ quan quản lý đất đai, giấy phép của cơ quan quản lý môi trường và các giấy phép khác liên quan đến dự án đầu tư đó. Như vậy giấy chứng nhận đầu tư không thay thế được các loại giấy phép trên.

Vậy thử hỏi chúng ta cần giấy chứng nhận đầu tư để làm gì? Cứ theo nguyên tắc mà nói thì đã được cấp giấy chứng nhận đầu tư tức là đã đủ điều kiện để đầu tư, tức là tất cả các điều kiện về dự án đầu tư đó đều đã hợp phápVậy tại sao lại buộc nhà đầu tư lại phải xin các loại giấy phép khác. Quản lý nhà nước về đầu tư trong trường hợp này đã thống nhất hay chưa?

Và hiện nay cũng đã có rất nhiều luật tiếm quyền đăng ký kinh doanh của Luật doanh nghiệp bằng cách gắn giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh vào một giấy phép hoạt động kinh doanh. Liên quan đến tình trạng này, ngoài luật đầu tư ra thì còn có Luật kinh doanh bảo hiểm, Luật chứng khoán, Luật kinh doanh bất động sản, Luật ngân hàng….

Có thể kể ra dưới đây một số điều khoản:

Điều 65 Luật kinh doanh bảo hiểm quy định: Giấy phép thành lập và hoạt động đồng thời là giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh

Khoản 2 Điều 59 Luật chứng khoán quy định: Uỷ ban chứng khoán nhà nước cấp giấy phép thành lập và hoạt động cho công ty chứng khoán, công ty quản lý quỹ. Giấy phép này đồng thời là giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh.

Và rất nhiều luật cũng có những quy định tương tự như vậy.

Các luật trên đã lợi dụng khoản 2 Điều 3 của Luật doanh nghiệp để tiếm quyền đăng ký kinh doanh của Luật doanh nghiệp. Các luật chỉ cần thêm hai từ “đồng thời” là coi như hoàn thành việc tấn công vào Luật doanh nghiệp để giành lấy quyền đăng ký kinh doanh cho ngành mình, làm cho Luật doanh nghiệp đang có nguy cơ biến thành một quy chế mẫu cho việc tổ chức, hoạt động của doanh nghiệp. Hệ quả tất yếu của việc này không gì khác hơn là sự rối loạn, không thống nhất trong việc quản lý các doanh nghiệp ở tầm vĩ mô.

Thông tin về doanh nghiệp không được quản lý thống nhất: Bộ kế hoạch và đầu tư thì quản lý các doanh nghiệp đăng ký kinh doanh theo Luật doanh nghiệp, Bộ tài chính thì quản lý các doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực chứng khoán, bảo hiểm, Ngân hàng nhà nước thì quản lý các doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực ngân hàng…..

Mỗi bộ chuyên ngành giành quyền quản lý các doanh nghiệp mà mình cấp giấy phép hoạt động bằng quy định giấy phép hoạt động đồng thời là giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh. Đáng lẽ ra nhiệm vụ chủ yếu của các luật chuyên ngành này là chỉ nên dừng lại ở việc kiểm soát việc cấp giấy phép hoạt động cho các doanh nghiệp, còn phải trả lại quyền cấp giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh cho cơ quan đăng ký kinh doanh.

Hiện nay chúng ta không thể hiểu được hai chữ “đồng thời” ở đây có nghĩa là gì? Và với thực tế đang xảy ra hiện nay thì có thể hiểu giấy phép hoạt động kinh doanh do các cơ quan chủ quản cấp có hai giá trị: giá trị thứ nhất là nó bảo đảm việc hoạt động của doanh nghiệp là hợp pháp và giá trị thứ hai là nó xác nhận tính hợp pháp của một doanh nghiệp.

Chúng ta không tài nào hiểu nổi tại sao một giấy phép hoạt động lại có thể có quyền năng này trong khi doanh nghiệp đó chưa được đăng ký kinh doanh. Việc dùng chữ đồng thời ở đây quả là một công đôi việc, vừa cấp phép hoạt động cho doanh nghiệp, vừa tiếm quyền của cơ quan đăng ký kinh doanh.

Hậu quả của việc này là một tương lai nhãn tiền có thể dễ dàng dự báo được, đó là sự chồng chéo trong vấn đề quản lý doanh nghiệp. Không biết rằng một doanh nghiệp đã được thành lập theo luật doanh nghiệp, sau đó lại được cấp giấy phép hoạt động trong lĩnh vực kinh doanh bảo hiểm sẽ do cơ quan nào quản lý: Bộ Kế hoạch và đầu tư hay Bộ tài chính?

Vậy để thống nhất trong việc quản lý nhà nước về doanh nghiệp, để cho việc quản lý doanh nghiệp phù hợp với thực tế hiện nay, trong bối cảnh một doanh nghiệp hoạt động kinh doanh đa ngành nghề mà mỗi ngành nghề lại do mỗi cơ quan khác nhau quản lý, chúng ta cần phải quán triệt một số quan điểm sau đây:

–         Cần phải trả lại thẩm quyền đăng ký kinh doanh cho Luật doanh nghiệp. Cơ quan đăng ký kinh doanh phải là cơ quan duy nhất có thẩm quyền đăng ký kinh doanh cho doanh nghiệp. Các cơ quan khác chỉ có chức năng kiểm soát điều kiện hoạt động của doanh nghiệp trong lĩnh vực mình phụ trách.

–         Thống nhất thực hiện tư duy: đã hoạt động kinh doanh thì trước tiên phải đăng ký kinh doanh để thành lập doanh nghiệp rồi sau đó cấp phép ngành nghề gì thì cấp.

–         Ban hành một văn bản hướng dẫn thực hiện áp dụng thống nhất về đăng ký kinh doanh đối với tất cả các ngành nghề, không để tình trạng các luật chuyên ngành lấn sân Luật doanh nghiệp, tạo ra sự chồng chéo trong việc quản lý doanh nghiệp.

Thiết nghĩ việc làm trên là rất cần kíp trong bối cảnh hiện nay. Nếu không giải quyết nhanh và triệt để sẽ sớm dẫn đến việc Luật doanh nghiệp sẽ mất hiệu lực, chỉ còn là một quy chế mẫu cho việc tổ chức và hoạt động của doanh nghiệp. Đừng bao giờ để Luật doanh nghiệp bị gặm nhấm như hiện nay!

Theo Luật gia:  Cao Bá Khoát

 

429 Lượt xem